Quỳnh muốn ngày chia tay Bách Khoa phải có gì đó đặc biệt một chút. Nàng viết cho ông anh họ, trình bày đề nghị của mình. Ông anh họ ủng hộ hết mình, và hứa sẽ chuẩn bị cho nàng một chương trình đặc biệt. Hai anh em hẹn nhau gần tết gặp lại.
Mỗi dịp tết đến, Bách Khoa có chương trình văn nghệ Xuân cây nhà lá vườn khá rôm rả. Học kỳ hai chỉ mới bắt đầu, chưa thi cử gì nhiều. Văn nghệ xong là dông thẳng về nhà nghỉ tết, nên không khí chơi giỡn rất ư là xung độ. Quỳnh ghi tên tham dự với mục song tấu tây ban cầm. Tên của ông anh họ là một bảo đảm nặng ký. Mấy anh trong ban văn nghệ mừng rỡ hỏi: 'Ảnh vô chơi hả? Phải là sô độc đó nhe.' 'Dạ. Ảnh vô công chuyện, tiện dịp luyện thêm cho em gái luôn.' Quỳnh đáp.
Gần tết, ông anh họ vô Sài Gòn, vác theo cây đờn chiến của mình. Bận rộn lo công chuyện, nên hai anh em chỉ có được một ngày rưỡi để tập luyện. Ông anh họ giao cây đờn của mình cho Quỳnh, dùng cây đờn cũ cho Quỳnh hồi trước. Nhìn hai anh em dợt say xưa, má Quỳnh thắc mắc không biết hai đứa làm sao mà gần tới ngày đi rồi mà vẫn còn mê chơi giỡn như vậy. Tuy nhiên, vốn gần gũi nhiều với đám trẻ, nên bà hiểu tuổi trẻ có thế giới riêng của nó, và tuổi trẻ cần phải được sống cho những giây phút riêng của mình.
Chương trình văn nghệ được tổ chức trong giảng đường A4 rộng lớn như rạp hát, kéo dài từ hai giờ trưa cho đến tối. Sô của Quỳnh được sắp xếp ngay giữa chương trình. Ban tổ chức chỉ ghi vỏn vẹn Song tấu Tây ban cầm trong bản chương trình viết nắn nót trên tấm bảng lớn đặt ở cổng ra vào chính của hội trường.
Ông anh họ ở trong hậu trường coi việc sắp xếp cho phần trình diễn. Quỳnh ngồi dưới ghế khán giả với bạn bè đợi đến lúc gần tới mục của mình mới vô hậu trường. Ông anh họ đón Quỳnh bằng một nụ cười khiến Quỳnh an lòng. Hai anh em ngồi đợi tới phiên của mình.
Ban tổ chức mang ra hai chiếc ghế đặt giữa sân khấu bài trí đơn giản, và bố trí micro theo đúng cách ông anh họ chỉ dẩn trước. Hai anh em xách đờn ra chào khán giả. Dưới hội trường ồn lên khi nhận ra Quỳnh. Đèn tắt, chỉ giữ lại một ngọn chiếu xiên xiên xuống chỗ hai chiếc ghế.
Quỳnh lead, ông anh họ đi bè. Khi giai điệu thôi thúc của bản Hành Khúc Thổ Nhĩ Kỳ cất lên, những tiếng xôn xao trong hội trường tắt hẳn. Hai bên ăn nhịp hết mức khiến Quỳnh yên tâm. Nỗi hồi hộp tan đi. Mạch âm Mozart kỳ diệu và biến ảo tài tình. Nàng nhắm mắt lại, những ngón tay lướt nhanh trên phím. Tiết tấu hối hả thúc giục lòng người. Về đâu? Với nàng đó đơn thuần chỉ là đi về phía trước trong cuộc du hành qua không-thời gian này. Trước mắt nàng hiện ra một chân trời lóa nắng. Còn bạn? Có bao giờ bị thôi thúc bởi những ý định nào không?
Những nốt nhạc cuối dằn mạnh kéo Quỳnh trở về với thực tại. Cả hội trường bùng lên tiếng vỗ tay. Hai anh em đứng dậy nghiêng người đáp lại khán giả. Chưa hết. Ban tổ chức ra lấy vô một chiếc ghế, lấy luôn cây đờn trong tay ông anh họ. Quỳnh ngồi lại xuống ghế. Ông anh họ vòng ra đứng phía sau. Hai anh em chơi lại bản song tấu trên cùng cây đàn Quỳnh ôm trên tay. Cả hội trường ồ lên. Hơi trật nhịp, nhưng chẳng sao, và cũng chẳng ai để ý.
Bảy phút trình diễn trôi qua nhanh chóng. Những tràng pháo tay kéo dài. Nàng không xuống lại chỗ bạn bè, mà bước ra ngoài theo lối cửa hậu, đi men theo dãy hành lang mênh mông bao có hàng cột lừng lững để trơ mặt bê tông thô ráp bao bọc khu giảng đường, rồi bước xuống khoảnh sân các tàng lá đại thụ che kín, hướng về dãy hành lang ngập nắng chiều nối giữa B4 và B6.
Nàng ngồi dựa vô một góc cột hành lang. Nắng vàng rực làm ánh lên lớp rêu xanh phủ kín những thân cây to lớn sau mỗi mùa mưa. Những chiếc lá cỡ móng tay rơi nhè nhẹ. Đã tới mùa lá rụng ở Sài Gòn.
Ông anh họ tìm ra nàng ở đó, nói nhẹ nhàng: 'Thôi mình biến.'
Showing posts with label Suối. Show all posts
Showing posts with label Suối. Show all posts
Wednesday, December 7, 2011
Tuesday, December 6, 2011
Điều ước
Quỳnh ngồi bó gối, nhìn ngọn lửa như bị thôi miên. Đôi mắt nàng ươn ướt. Tôi kéo tấm áo choàng nhìn như cái mền của người da đỏ trùm lên người nàng. 'Ước gì có cây đờn ghi ta ở đây!' bất giác Quỳnh thốt lên.
Căn chòi trống trơn, chỉ có cái gìường và bộ đồ nấu ăn trên bếp. Ngọn lửa từ cái lò sưởi nhỏ vẫn tiếp tục nhảy múa. Hồi sáng lúc lựa mua chiếc áo choàng bên phố núi, tôi có thấy có bán những cây đờn ghi ta trong các tiệm bán đồ lưu niệm. Có lẽ chỉ là đồ mã. Những cây đờn bày bán cạnh yên ngựa, giày cao cổ, quần jean, áo ca rô, nón rộng vành gợi lại cái quá khứ của những chàng cao bồi súng bên hông, đàn trên tay, bóng lắc lư vươn dài trong ánh lửa trại bập bùng.
Bóng hai đứa in trên tường quyện thành một khối đen thui, bất động. Bên ngoài cửa sổ tối đen. Chỉ nghe tiếng suối.
Ru em con suối vào thu.
Căn chòi trống trơn, chỉ có cái gìường và bộ đồ nấu ăn trên bếp. Ngọn lửa từ cái lò sưởi nhỏ vẫn tiếp tục nhảy múa. Hồi sáng lúc lựa mua chiếc áo choàng bên phố núi, tôi có thấy có bán những cây đờn ghi ta trong các tiệm bán đồ lưu niệm. Có lẽ chỉ là đồ mã. Những cây đờn bày bán cạnh yên ngựa, giày cao cổ, quần jean, áo ca rô, nón rộng vành gợi lại cái quá khứ của những chàng cao bồi súng bên hông, đàn trên tay, bóng lắc lư vươn dài trong ánh lửa trại bập bùng.
Bóng hai đứa in trên tường quyện thành một khối đen thui, bất động. Bên ngoài cửa sổ tối đen. Chỉ nghe tiếng suối.
Ru em con suối vào thu.
Monday, December 5, 2011
Toan Tính
Ông anh họ của Quỳnh ra trường năm 1988 với tấm bằng kỹ sư cơ khí, về lại Nha Trang nhận một công việc bảo trì máy móc trong một công ty cấp tỉnh. Phe Khánh Hòa và phe Phú Yên đang đấu đá kịch liệt để tách ra lại thành hai tỉnh như cũ, nên mọi công việc đều ngưng trệ. Ở công ty kỹ sư thì nhiều mà việc thì ít, lương ba cọc ba đồng, công việc lại chẳng có gì để làm, ngày ngày la cà ngoài quán cà phê cà pháo cho qua ngày. Vốn là người đầy nghệ sĩ tính, rất nhạy cảm, nên sau mấy tháng ngồi chơi sơi nước, anh chịu hết nỗi bèn ngỏ ý với gia đình ý định vượt biên để tìm một đời sống có ý nghĩa hơn.
Lúc đó những ai có ý định vượt biên đều hối hả chuẩn bị. Lý do là sau trung tuần tháng Ba 1989, bất cứ thuyền nhân nào cập vô bờ các quốc gia láng giềng sẽ không được công nhận là người tị nạn nữa. Thế giới đã mỏi mệt trong việc tiếp nhận làn sóng tị nạn từ Việt Nam. Lòng nhân cũng có giới hạn của nó khi phải đối mặt với những gánh nặng tài chính và phương tiện khổng lồ.
Cả dòng họ họp lại để bàn tính. Lúc này gia đình Quỳnh đã nộp đơn xin xuất cảnh theo diện bảo lãnh. Nhưng với tốc độ duyệt đơn này, thì đến khi gia đình được phỏng vấn thì Quỳnh chắc chắn sẽ bị loại vì trên 21 tuổi. Ông anh họ hỏi ba má Quỳnh có muốn cho Quỳnh đi theo không. Thời gian đó mọi người gần như mất hết hy vọng vô hiện tại, ai cũng muốn vượt thoát ra khỏi tình trạng sống vô vọng nên dễ tin theo và chụp lấy những hy vọng mong manh. Ba má Quỳnh quyết định thiệt nhanh chóng. Ông bà đồng ý cho Quỳnh đi chung với ông anh họ nếu Quỳnh chịu đi. Cả gia đình sẽ đoàn tụ lại bên đó, nhanh hơn nhiều so với theo đúng trình tự thủ tục bảo lãnh đầy nhiêu khê. Khi được hỏi ý kiến, Quỳnh đồng ý nhanh chóng trong sự ngạc nhiên của mọi người. Không ai ngờ Quỳnh cũng tỏ ra cứng cỏi như vậy. Quỳnh lại không thấy có gì phải ngạc nhiên hết. Đó đơn giản chỉ là sự lựa chọn. Thực ra trong thâm tâm Quỳnh cũng cảm thấy rất chán chường, và viễn cảnh sẽ xa cách gia đình một thời gian dài cũng khiến nàng sợ hãi. Quyết định đi tự thân nó đã là một hy vọng về một chân trời mới, về một cõi an vui hơn. Còn sau đó ra sao, nàng không thể nào hình dung ra. Và không muốn nghĩ tới lúc này.
Nhóm vượt biên gồm ba người: ông anh họ, Quỳnh, và một người em họ. Ông anh họ lo mọi phần chuẩn bị. Ngày đi được quyết định là sau Tết. Phải đợi cho mùa bão qua. Còn lúc này thì vẫn phải đi học đi làm như bình thường để tránh gây nghi ngờ.
Lúc đó những ai có ý định vượt biên đều hối hả chuẩn bị. Lý do là sau trung tuần tháng Ba 1989, bất cứ thuyền nhân nào cập vô bờ các quốc gia láng giềng sẽ không được công nhận là người tị nạn nữa. Thế giới đã mỏi mệt trong việc tiếp nhận làn sóng tị nạn từ Việt Nam. Lòng nhân cũng có giới hạn của nó khi phải đối mặt với những gánh nặng tài chính và phương tiện khổng lồ.
Cả dòng họ họp lại để bàn tính. Lúc này gia đình Quỳnh đã nộp đơn xin xuất cảnh theo diện bảo lãnh. Nhưng với tốc độ duyệt đơn này, thì đến khi gia đình được phỏng vấn thì Quỳnh chắc chắn sẽ bị loại vì trên 21 tuổi. Ông anh họ hỏi ba má Quỳnh có muốn cho Quỳnh đi theo không. Thời gian đó mọi người gần như mất hết hy vọng vô hiện tại, ai cũng muốn vượt thoát ra khỏi tình trạng sống vô vọng nên dễ tin theo và chụp lấy những hy vọng mong manh. Ba má Quỳnh quyết định thiệt nhanh chóng. Ông bà đồng ý cho Quỳnh đi chung với ông anh họ nếu Quỳnh chịu đi. Cả gia đình sẽ đoàn tụ lại bên đó, nhanh hơn nhiều so với theo đúng trình tự thủ tục bảo lãnh đầy nhiêu khê. Khi được hỏi ý kiến, Quỳnh đồng ý nhanh chóng trong sự ngạc nhiên của mọi người. Không ai ngờ Quỳnh cũng tỏ ra cứng cỏi như vậy. Quỳnh lại không thấy có gì phải ngạc nhiên hết. Đó đơn giản chỉ là sự lựa chọn. Thực ra trong thâm tâm Quỳnh cũng cảm thấy rất chán chường, và viễn cảnh sẽ xa cách gia đình một thời gian dài cũng khiến nàng sợ hãi. Quyết định đi tự thân nó đã là một hy vọng về một chân trời mới, về một cõi an vui hơn. Còn sau đó ra sao, nàng không thể nào hình dung ra. Và không muốn nghĩ tới lúc này.
Nhóm vượt biên gồm ba người: ông anh họ, Quỳnh, và một người em họ. Ông anh họ lo mọi phần chuẩn bị. Ngày đi được quyết định là sau Tết. Phải đợi cho mùa bão qua. Còn lúc này thì vẫn phải đi học đi làm như bình thường để tránh gây nghi ngờ.
Tình Hình Chung
Tình hình chung là tình trạng cả xã hội vật vã đối phó với chính sách kinh tế Giá-Lương-Tiền nhà nước đưa ra năm 1985. Thực ra, chính sách này đã bắt đầu từ những năm đầu 80 trong hệ thống nhà nước sau khi khối Xã hội Chủ nghĩa nhận thấy không chịu đựng nỗi gánh nặng Việt Nam với nền kinh tế yếu kém và những cuộc chiến tranh liên miên, không viện trợ hàng hóa giá thấp hoặc cho không nữa, mà tính theo giá cả thị trường. Dù cho có cố phá rừng phá biển hết mức và vét sạch ruộng đồng, dưới áp lực thu không đủ bù chi nền kinh tế cả nước, vốn bị ép theo mô hình miền Bắc trước ngày thống nhất, càng lúc càng èo uột, và gần như thoi thóp. Trong nền kinh tế xuất hiện ba loại giá: giá nhà nước ấn định; giá điều chỉnh; và giá thả nổi của thị trường. Ba giá này xa nhau một trời một vực, không biết đâu mà lần, nói chi quản lý. Lương lãnh ra coi như giỡn. Hàng hóa thiết yếu thiếu trầm trọng. Ăn độn, ăn đại, nói chung ăn bất cứ thứ gì chỉ để sống. Đại lễ kỷ niệm mười năm thâu tóm giang sơn về một cõi đánh dấu một thời điểm hết sức thê thảm trong đời sống của toàn thể dân chúng. Cuối 1985, đảng và nhà nước Cộng Sản thực hiện cuộc cải cách giá lương tiền trên quy mô toàn xã hội nhằm thực hiện cơ chế một giá, cân đối thu chi, giúp quốc doanh tự chủ tài chính, và người ăn lương nhà nước sống được. Dân đen không hề là ưu tiên của chính sách này, nhưng lãnh đủ hết mọi hậu quả của nó.
Giá-Lương-Tiền bắt đầu bằng một cuộc đổi tiền làm chấn động xã hội. Mỗi gia đình chỉ được phép đổi 1200 đồng tiền mới, tức 12000 ngàn đồng tiền cũ. Sau một đêm, nhiều người thấy vốn liếng làm ăn của mình mất sạch. Thay vì giải phóng sức sản xuất để bù đắp lượng hàng hóa thiếu hụt so với nhu cầu, khiến giá cả cân bằng, nhà nước lại đi hạn chế tiền tệ để chống lạm phát. Tiền bạc khan hiếm trầm trọng. Chỉ có tiền chẵn, không có tiền lẽ. Hàng hóa thiếu thốn kinh khủng, nên giá cả lại tăng cao. Mỗi nơi mỗi giá khác nhau. Lại tăng lương thêm. Lại in thêm tiền. Cả xã hội bị cuốn vô vòng xoáy đó. Lạm phát vọt lên mức phi mã ba trăm bốn trăm phần trăm ngay lập tức. Dân chúng không tin ở tiền nhà nước in. Vàng thống lĩnh mọi giao dịch và tình trạng hàng đổi hàng thực sự xảy ra. Làm ăn không xong, buôn bán cũng chẳng đặng vì tình trạng ngăn sông cấm chợ nghiệt ngã. Bốn trăm quận huyện biến thành bốn trăm pháo đài giữ chặt mọi loại hàng hóa trong phạm vi của mình để tự... cứu. Các trạm kiểm soát hàng hóa mọc lên chi chit, chốt kín các con lộ ra vô Sài Gòn và các tỉnh. Đời sống hoàn toàn bế tắc.
Những người trước đây ngần ngại xuất cảnh theo chương trình ra đi trong trật tự nay không còn lý do gì để trì hoãn nữa. Giá lương tiền cùng với các chiến dịch mùa khô liên tiếp ở Kampuchea cũng khiến làn sóng vượt biên lên đỉnh điểm. Các nước lân cận và Liên Hợp Quốc la trời.
Đảng Cộng Sản chợt nhận ra tình hình thực sự trầm trọng, phải tự cứu mình trước khi trời cứu. Nền kinh tế kiệt quệ. Con người cũng kiệt quệ. Đất nước trên bờ vực sụp đổ. Tình trạng vô chính phủ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Đại hội VI năm 1986 tìm được sự đồng thuận rộng lớn hơn để cải cách triệt để hơn theo hướng thị trường. Nhưng phải đến bốn năm sau, sau nhiều biện pháp thử sai trên đầu trên cổ dân chúng, tình hình kinh tế mới dần dần ổn định trở lại. Đến năm 1990, lạm phát hạ xuống mức hai con số.
Trong bối cảnh của những năm từ 1985 đến 1990 đó, đi học thực sự là một gánh nặng cho gia đình, bất kể là dân đen, công chức hay cán bộ cỡ nhỏ. Chỉ có những người có đồ Mỹ và đô la, những kẻ được cung phụng là thấy sướng. Cùng với tâm trạng chán chường, tâm trạng bực bội cứ lan dần vào mọi ngóc nghách của hệ thần kình, cứ chờ dịp là bùng nổ. Bọn sinh viên chửi thề như giặc, chửi vì bất kỳ lý do gì. Đứa hiền nhứt cũng bật miệng chửi: 'Mẹ kiếp!'
Giá-Lương-Tiền bắt đầu bằng một cuộc đổi tiền làm chấn động xã hội. Mỗi gia đình chỉ được phép đổi 1200 đồng tiền mới, tức 12000 ngàn đồng tiền cũ. Sau một đêm, nhiều người thấy vốn liếng làm ăn của mình mất sạch. Thay vì giải phóng sức sản xuất để bù đắp lượng hàng hóa thiếu hụt so với nhu cầu, khiến giá cả cân bằng, nhà nước lại đi hạn chế tiền tệ để chống lạm phát. Tiền bạc khan hiếm trầm trọng. Chỉ có tiền chẵn, không có tiền lẽ. Hàng hóa thiếu thốn kinh khủng, nên giá cả lại tăng cao. Mỗi nơi mỗi giá khác nhau. Lại tăng lương thêm. Lại in thêm tiền. Cả xã hội bị cuốn vô vòng xoáy đó. Lạm phát vọt lên mức phi mã ba trăm bốn trăm phần trăm ngay lập tức. Dân chúng không tin ở tiền nhà nước in. Vàng thống lĩnh mọi giao dịch và tình trạng hàng đổi hàng thực sự xảy ra. Làm ăn không xong, buôn bán cũng chẳng đặng vì tình trạng ngăn sông cấm chợ nghiệt ngã. Bốn trăm quận huyện biến thành bốn trăm pháo đài giữ chặt mọi loại hàng hóa trong phạm vi của mình để tự... cứu. Các trạm kiểm soát hàng hóa mọc lên chi chit, chốt kín các con lộ ra vô Sài Gòn và các tỉnh. Đời sống hoàn toàn bế tắc.
Những người trước đây ngần ngại xuất cảnh theo chương trình ra đi trong trật tự nay không còn lý do gì để trì hoãn nữa. Giá lương tiền cùng với các chiến dịch mùa khô liên tiếp ở Kampuchea cũng khiến làn sóng vượt biên lên đỉnh điểm. Các nước lân cận và Liên Hợp Quốc la trời.
Đảng Cộng Sản chợt nhận ra tình hình thực sự trầm trọng, phải tự cứu mình trước khi trời cứu. Nền kinh tế kiệt quệ. Con người cũng kiệt quệ. Đất nước trên bờ vực sụp đổ. Tình trạng vô chính phủ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Đại hội VI năm 1986 tìm được sự đồng thuận rộng lớn hơn để cải cách triệt để hơn theo hướng thị trường. Nhưng phải đến bốn năm sau, sau nhiều biện pháp thử sai trên đầu trên cổ dân chúng, tình hình kinh tế mới dần dần ổn định trở lại. Đến năm 1990, lạm phát hạ xuống mức hai con số.
Trong bối cảnh của những năm từ 1985 đến 1990 đó, đi học thực sự là một gánh nặng cho gia đình, bất kể là dân đen, công chức hay cán bộ cỡ nhỏ. Chỉ có những người có đồ Mỹ và đô la, những kẻ được cung phụng là thấy sướng. Cùng với tâm trạng chán chường, tâm trạng bực bội cứ lan dần vào mọi ngóc nghách của hệ thần kình, cứ chờ dịp là bùng nổ. Bọn sinh viên chửi thề như giặc, chửi vì bất kỳ lý do gì. Đứa hiền nhứt cũng bật miệng chửi: 'Mẹ kiếp!'
Friday, December 2, 2011
Xử Đẹp
Một đêm mưa cuối mùa, đám sinh viên ở ký túc xá Bách Khoa trên đường Lý Thường Kiệt bắt được đứa trộm xe đạp. Nạn trộm xe đạp là một vấn đề lưu cữu và là một vấn nạn lớn cho sinh viên, vốn chỉ có chiếc xe đạp gần như là tài sản đáng giá duy nhất. Sinh viên ở các tỉnh lên thì ở Ký Túc Xá, còn sinh viên Sài Gòn thì vẫn ở với gia đình, nhưng hộ khẩu thì bị cắt khỏi gia đình đưa vô trường. Cả đám ký túc xá rình hoài đến giờ mới bắt được đứa này. Đây không phải là đứa đầu tiên bị bắt. Nhưng bắt giao công an rồi thì lại được thả ra. Nên đám ăn trộm quen thói vô trộm tiếp.
Bữa nay thằng ăn trộm này tới số. Thằng ăn trộm bị trói vô một gôc cột, và bị cả đám thi nhau đấm đá. Những đứa khác đi ngang qua cũng thụi cho một thụi. Đám trên lầu nghe chuyện chạy xuống cũng đá cho một đá. Tên trộm bị hành hạ suốt đêm, ngất lên xỉu xuống mấy lần. Đám bảo vệ sợ tên trộm bị chết, đến xin nhận tên trộm để giao cho công an, nhưng đám sinh viên không chịu, dồn đám bảo vệ về lại trong trạm gác, nói chuyện này để sinh viên xử. Đến sáng hôm sau, đám sinh viên mới biết chuyện nhào vô xử tên trộm tiếp. Tên trộm đã gần như gục hẳn. Đám sinh viên tạt nước cho tỉnh lại, rồi hành hạ tiếp.
Đám bảo vệ ký túc xá gọi điện báo cho công an phường. Một nhóm công an đến điều đình với sinh viên nhận lại tên trộm, nhưng sinh viên đòi phải trưởng công an phường xuống nói chuyện. Tên trộm được đưa lên lầu, nhốt trên đó, và xử tiếp. Đám công an không làm được gì, giở giọng hăm dọa. Lập tức đám sinh viên bao quanh mấy tên công an. Đứa này xô qua, đứa kia xô lại. Mấy tên công an hết bị đẩy tạt qua bên này, lại bị đẩy dạt qua bên kia trong vòng vây trùng trùng của sinh viên. Phải vất vả hết sức, đám công an mới thoát được ra khỏi cổng, tức tối ghê lắm.
Đám anh chị xung quanh đó kéo tới bao quanh cổng la hét, hăm dọa đòi thả tên trộm. Sinh viên đóng cổng ký túc xá lại. Nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Công an vừa sợ có chuyện lớn vừa tức tối, kéo đến thiệt đông, kéo cả dân phòng và phường đội, bắt loa kêu gọi sinh viên giao nộp tên trộm. Đám anh chị tản đi. Sinh viên nhứt định không mở cổng. Cuối cùng công an hăm dọa nếu sinh viên không mở cổng và giao nộp tên trộm thì sẽ sử dụng tới vũ lực.
Nhưng sinh viên đã rút hết lên lầu, và chuẩn bị sẳn. Khi công an, phường đội, và dân phòng vừa đột nhập vô cổng thì lập tức sinh viên thả lò gạch nấu cơm từ trên lầu xuống ầm ầm như dội bom. Miểng gạch, tro bụi bắn tung tóe. Đám công an - phường đội - dân phòng sợ tét gáo, chạy té khói ra ngoài. Lò gạch được chuyển từ các dãy lầu khác tới dãy lầu sát cổng để đối phó tiếp với các đợt đột nhập lần hai, lần ba. Lần nào công an - phường đội - dân phòng cũng được tiếp đón tưng bừng.
Đến chiều thì lò gạch chẳng còn để dội bom nữa. Một đợt tấn công mới được mở ra. Công an tưởng chừng chắc ăn là sinh viên đã hết bài rồi. Không ngờ, vừa bước vô khỏi cổng, lập tức bàn ghế từ trên lầu bay xuống, lại một màn chạy bắn khói. Bà con ở mấy khu chung cư đối diện kéo ra đứng đầy hành lang coi, khoái chí.
Trước khi trời tối, công an nôn nóng mở một cuộc tấn công nữa, lập tức sinh viên gở cửa sổ lao xuống. Có đứa còn hứng chí, gở cửa sổ ra, chẻ ba chẻ tư xong đốt rồi mới lao xuống. Con ngõ từ cổng vô tới sân ký túc xá nhìn như một bãi chiến trường, lửa khói mù mịt.
Tới khuya, đại điện của trường tới điều đình. Sinh viên cũng đã thấm mệt, giao tên trộm cho đại diện trường. Trường ra nói chuyện với công an, nói thôi xí xóa cho mấy em, cũng là con cháu đàng mình hết, chẳng qua do tình hình chung cả thôi, để trường tự giải quyết lấy. Hơn sáu mươi phần trăm sinh viên từ các tỉnh lên Sài Gòn học thuộc diện ưu tiên trong bảng phân loại lý lịch. Công an rút về.
Sinh viên ở ký túc xá đi học lại. Chuyện ở ký túc xá lan nhanh khắp trường. Đám ở ngoài nễ quá, khen bọn ký túc xá: 'Đẹp thiệt! Mấy cu xử đẹp thiệt!' Đám anh chị ở xung quanh ký túc xá thì nễ sinh viên ra mặt, không hề dám đụng độ. Từ đó ký túc xá được yên. Nhưng cũng từ đó, một mạng lưới ăng ten cũng được phát triển khắp trường.
Bữa nay thằng ăn trộm này tới số. Thằng ăn trộm bị trói vô một gôc cột, và bị cả đám thi nhau đấm đá. Những đứa khác đi ngang qua cũng thụi cho một thụi. Đám trên lầu nghe chuyện chạy xuống cũng đá cho một đá. Tên trộm bị hành hạ suốt đêm, ngất lên xỉu xuống mấy lần. Đám bảo vệ sợ tên trộm bị chết, đến xin nhận tên trộm để giao cho công an, nhưng đám sinh viên không chịu, dồn đám bảo vệ về lại trong trạm gác, nói chuyện này để sinh viên xử. Đến sáng hôm sau, đám sinh viên mới biết chuyện nhào vô xử tên trộm tiếp. Tên trộm đã gần như gục hẳn. Đám sinh viên tạt nước cho tỉnh lại, rồi hành hạ tiếp.
Đám bảo vệ ký túc xá gọi điện báo cho công an phường. Một nhóm công an đến điều đình với sinh viên nhận lại tên trộm, nhưng sinh viên đòi phải trưởng công an phường xuống nói chuyện. Tên trộm được đưa lên lầu, nhốt trên đó, và xử tiếp. Đám công an không làm được gì, giở giọng hăm dọa. Lập tức đám sinh viên bao quanh mấy tên công an. Đứa này xô qua, đứa kia xô lại. Mấy tên công an hết bị đẩy tạt qua bên này, lại bị đẩy dạt qua bên kia trong vòng vây trùng trùng của sinh viên. Phải vất vả hết sức, đám công an mới thoát được ra khỏi cổng, tức tối ghê lắm.
Đám anh chị xung quanh đó kéo tới bao quanh cổng la hét, hăm dọa đòi thả tên trộm. Sinh viên đóng cổng ký túc xá lại. Nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Công an vừa sợ có chuyện lớn vừa tức tối, kéo đến thiệt đông, kéo cả dân phòng và phường đội, bắt loa kêu gọi sinh viên giao nộp tên trộm. Đám anh chị tản đi. Sinh viên nhứt định không mở cổng. Cuối cùng công an hăm dọa nếu sinh viên không mở cổng và giao nộp tên trộm thì sẽ sử dụng tới vũ lực.
Nhưng sinh viên đã rút hết lên lầu, và chuẩn bị sẳn. Khi công an, phường đội, và dân phòng vừa đột nhập vô cổng thì lập tức sinh viên thả lò gạch nấu cơm từ trên lầu xuống ầm ầm như dội bom. Miểng gạch, tro bụi bắn tung tóe. Đám công an - phường đội - dân phòng sợ tét gáo, chạy té khói ra ngoài. Lò gạch được chuyển từ các dãy lầu khác tới dãy lầu sát cổng để đối phó tiếp với các đợt đột nhập lần hai, lần ba. Lần nào công an - phường đội - dân phòng cũng được tiếp đón tưng bừng.
Đến chiều thì lò gạch chẳng còn để dội bom nữa. Một đợt tấn công mới được mở ra. Công an tưởng chừng chắc ăn là sinh viên đã hết bài rồi. Không ngờ, vừa bước vô khỏi cổng, lập tức bàn ghế từ trên lầu bay xuống, lại một màn chạy bắn khói. Bà con ở mấy khu chung cư đối diện kéo ra đứng đầy hành lang coi, khoái chí.
Trước khi trời tối, công an nôn nóng mở một cuộc tấn công nữa, lập tức sinh viên gở cửa sổ lao xuống. Có đứa còn hứng chí, gở cửa sổ ra, chẻ ba chẻ tư xong đốt rồi mới lao xuống. Con ngõ từ cổng vô tới sân ký túc xá nhìn như một bãi chiến trường, lửa khói mù mịt.
Tới khuya, đại điện của trường tới điều đình. Sinh viên cũng đã thấm mệt, giao tên trộm cho đại diện trường. Trường ra nói chuyện với công an, nói thôi xí xóa cho mấy em, cũng là con cháu đàng mình hết, chẳng qua do tình hình chung cả thôi, để trường tự giải quyết lấy. Hơn sáu mươi phần trăm sinh viên từ các tỉnh lên Sài Gòn học thuộc diện ưu tiên trong bảng phân loại lý lịch. Công an rút về.
Sinh viên ở ký túc xá đi học lại. Chuyện ở ký túc xá lan nhanh khắp trường. Đám ở ngoài nễ quá, khen bọn ký túc xá: 'Đẹp thiệt! Mấy cu xử đẹp thiệt!' Đám anh chị ở xung quanh ký túc xá thì nễ sinh viên ra mặt, không hề dám đụng độ. Từ đó ký túc xá được yên. Nhưng cũng từ đó, một mạng lưới ăng ten cũng được phát triển khắp trường.
Sunday, November 20, 2011
Tình
Một trong những đêm mưa tháng Mười đó, Hải đến làm quen với Quỳnh. Quỳnh đang đứng ngắm mưa rơi và nhớ tới Thái, một người bạn thân thiết thời trung học. Hai chị em Thái vừa được tàu Tây Đức vớt ngoài khơi biển Đông, đưa về Singapore, và đang đợi ngày sang Tây Đức nhập cư. Thái thi đại học rớt và bị bắt đi nghĩa vụ quân sự. Khi nhận thấy con mình sắp bị đưa sang Kampuchia, cha mẹ Thái quyết định cho con vượt biên. Cuôc chiến sắp hạ màn bên đó, và Việt Nam đang ráo riết thực hiện những chiến dịch tảo thanh quyết liệt cuối cùng nhằm tạo lợi thế cho chính quyền Hunsen. Thương vong lại rộ lên. Xác lính chở về Tây Ninh chôn không kịp. Trước khi đi, trong lúc gấp gáp, Thái có ghé ngang trường thăm Quỳnh trong bộ đồ bộ đội. Thấy Quỳnh ngồi nói chuyện trong quán nước với một tay bộ đội, không ít con mắt đã nhìn Quỳnh ngỡ ngàng. Trời mưa bão khiến Quỳnh liên tưởng đến các chiếc ghe nhỏ mất hút sau đường chân trời ở biển Đông, đến những cuộc đánh đố với biển khơi để giành lấy cái quyền được tự định đoạt số phận. Tiếng Hải chào bên tai kéo Quỳnh trở lại với thực tại. Hải có dáng dấp thư sinh, ăn nói nhẹ nhàng, nhìn hiền lành, dễ mến. Quỳnh nhã nhặn đáp lại những câu nói ngộ nghĩnh về mưa, về thời tiết, và cả những câu tán bâng quơ. Hải vô trường cùng năm, nhưng học bên cơ khí.
Từ đó, Hải tìm cách gặp Quỳnh hoài, thỉnh thoảng viết tặng Quỳnh những vần thơ nhẹ nhàng, và rất ư là lãng mạng. Đầu tiên Quỳnh thấy mắc cười, nhưng riết rồi Quỳnh nhận ra Hải đã thành một phần đời sống của mình. Nàng thấy thích những trò săn đón tế nhị, những ngón chăm sóc kín đáo, và sự tôn thờ không dấu diếm của Hải. Hai người càng lúc càng trở nên thân thiết, và đến một hôm nàng dẫn Hải về giới thiệu với gia đình.
Cha Quỳnh tá hỏa khi biết Hải là con cán bộ. Hải nhìn không khác những đứa con trai khác ở đất Sài Gòn này, nhưng ông không chấp nhận nỗi chuyện con mình quen với con cán bộ. Ông là một kỹ sư nông lâm súc và suốt cuộc đời chỉ là một nhân viên dân sự. Ông xa lánh chuyện chính trị, nhưng các chính sách tàn khốc và phương cách làm việc tồi dỡ của chính quyền Cộng Sản sau khi chiếm được miền Nam khiến ông có ác cảm thậm tệ với chế độ này. Ông nói với Quỳnh nhẹ nhàng nhưng cương quyết: "Ba không nghĩ một này nào đó mình sẽ làm sui gia với họ." Quỳnh cho rằng cha mình nghĩ xa xôi quá, nhưng mẹ Quỳnh nói biết đâu được. Bà khuyên Quỳnh nên suy nghĩ kỹ, quyết định cho gọn, và đừng nên để bạn hy vọng nhiều quá. Tình cảm chưa sâu đậm nên còn dễ, chớ để sau này sâu đậm quá sẽ khổ cho cả hai. Nhất là cho Hải vì Hải thực sự yêu Quỳnh.
Quỳnh không bao giờ để Hải đến nhà nữa, và không để mối quan hệ đi xa hơn. Hải buồn, nhưng có vẻ hiểu. Nhiều năm về sau, khi đã có gia đình, Hải vẫn còn lưu luyến Quỳnh lắm, vẫn viết cho Quỳnh những vần thơ tình nhẹ nhàng mỗi khi có dịp.
Gia đình cu Danh cũng giống như gia đình Hải, nhưng gia đình cu Danh là cán bộ Bắc gia đình Hải là cán bộ Nam. Cu Danh theo gia đình vào Nam năm bảy tuổi, lớn lên nói giọng Nam. Mùa hè trước khi nhập học Bách Khoa, cu Danh về Hà Nội thăm lại bà con ngoài đó sau mười một năm. Mấy bà chị họ phán: "Thằng này mất gốc!" Cu Danh kể lại, cười khà khà: "Mấy bả nói mình mất gốc, nhưng mà mình vẫn nói tiếng Việt mà." Nhìn cu Danh, nghe cu Danh không ai nghĩ thằng này gia đình cán bộ hết. Cu Danh cũng quen một em gái gia đình "ngụy" và được chấp nhận. Sau này cu Danh không làm cho nhà nước, lập một đội thợ, chạy thầu làm ăn riêng. Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa sản sinh ra một tầng lớp giàu xổi, khoe khoang và chơi nổi. Cu Danh chuyên đánh biệt thự "độc" cho lớp người này, kiếm dư tiền nuôi vợ con và sống cuộc đời tự do, thoải mái.
Thời gian đó, cu Hợp cũng theo tán Đào. Đi học về cu Hợp canh me đạp xe bên cạnh Đào nói chuyện huyên thuyên. Một buổi chiều Đào mời cu Hợp vô nhà uống nước. Trong lúc hai người đang trò chuyện thì mẹ Đào về. Đào hỏi: "Hôm nay mẹ về trễ vậy? Con đã bắc nồi cơm rồi." "Ờ, bữa nay mẹ họp chi bộ." - mẹ Đào trả lời. Cu Hợp nghe mà ngỡ ngàng, nói chuyện thêm một chút nữa rồi chào về. Một đi không trở lại.
Nhiều năm về sau, trong một buổi họp mặt bạn bè, nhớ lại chuyện cũ cu Hợp thốt lên: "Tại sao lúc đó mình làm vậy ta? Tại sao nghe nói tới chữ chi bộ là thấy dội liền?", rồi cười hà hà: "Lại một chuyện tình nữa chưa kịp bắt đầu." Tôi chọc: "Mẹ em Đảng nhưng em có Đảng đâu, và mày phải làm sao cho cả đời em không thèm theo Đảng." "Nhưng lúc đó mình đâu có nghĩ vậy."
Từ đó, Hải tìm cách gặp Quỳnh hoài, thỉnh thoảng viết tặng Quỳnh những vần thơ nhẹ nhàng, và rất ư là lãng mạng. Đầu tiên Quỳnh thấy mắc cười, nhưng riết rồi Quỳnh nhận ra Hải đã thành một phần đời sống của mình. Nàng thấy thích những trò săn đón tế nhị, những ngón chăm sóc kín đáo, và sự tôn thờ không dấu diếm của Hải. Hai người càng lúc càng trở nên thân thiết, và đến một hôm nàng dẫn Hải về giới thiệu với gia đình.
Cha Quỳnh tá hỏa khi biết Hải là con cán bộ. Hải nhìn không khác những đứa con trai khác ở đất Sài Gòn này, nhưng ông không chấp nhận nỗi chuyện con mình quen với con cán bộ. Ông là một kỹ sư nông lâm súc và suốt cuộc đời chỉ là một nhân viên dân sự. Ông xa lánh chuyện chính trị, nhưng các chính sách tàn khốc và phương cách làm việc tồi dỡ của chính quyền Cộng Sản sau khi chiếm được miền Nam khiến ông có ác cảm thậm tệ với chế độ này. Ông nói với Quỳnh nhẹ nhàng nhưng cương quyết: "Ba không nghĩ một này nào đó mình sẽ làm sui gia với họ." Quỳnh cho rằng cha mình nghĩ xa xôi quá, nhưng mẹ Quỳnh nói biết đâu được. Bà khuyên Quỳnh nên suy nghĩ kỹ, quyết định cho gọn, và đừng nên để bạn hy vọng nhiều quá. Tình cảm chưa sâu đậm nên còn dễ, chớ để sau này sâu đậm quá sẽ khổ cho cả hai. Nhất là cho Hải vì Hải thực sự yêu Quỳnh.
Quỳnh không bao giờ để Hải đến nhà nữa, và không để mối quan hệ đi xa hơn. Hải buồn, nhưng có vẻ hiểu. Nhiều năm về sau, khi đã có gia đình, Hải vẫn còn lưu luyến Quỳnh lắm, vẫn viết cho Quỳnh những vần thơ tình nhẹ nhàng mỗi khi có dịp.
Gia đình cu Danh cũng giống như gia đình Hải, nhưng gia đình cu Danh là cán bộ Bắc gia đình Hải là cán bộ Nam. Cu Danh theo gia đình vào Nam năm bảy tuổi, lớn lên nói giọng Nam. Mùa hè trước khi nhập học Bách Khoa, cu Danh về Hà Nội thăm lại bà con ngoài đó sau mười một năm. Mấy bà chị họ phán: "Thằng này mất gốc!" Cu Danh kể lại, cười khà khà: "Mấy bả nói mình mất gốc, nhưng mà mình vẫn nói tiếng Việt mà." Nhìn cu Danh, nghe cu Danh không ai nghĩ thằng này gia đình cán bộ hết. Cu Danh cũng quen một em gái gia đình "ngụy" và được chấp nhận. Sau này cu Danh không làm cho nhà nước, lập một đội thợ, chạy thầu làm ăn riêng. Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa sản sinh ra một tầng lớp giàu xổi, khoe khoang và chơi nổi. Cu Danh chuyên đánh biệt thự "độc" cho lớp người này, kiếm dư tiền nuôi vợ con và sống cuộc đời tự do, thoải mái.
Thời gian đó, cu Hợp cũng theo tán Đào. Đi học về cu Hợp canh me đạp xe bên cạnh Đào nói chuyện huyên thuyên. Một buổi chiều Đào mời cu Hợp vô nhà uống nước. Trong lúc hai người đang trò chuyện thì mẹ Đào về. Đào hỏi: "Hôm nay mẹ về trễ vậy? Con đã bắc nồi cơm rồi." "Ờ, bữa nay mẹ họp chi bộ." - mẹ Đào trả lời. Cu Hợp nghe mà ngỡ ngàng, nói chuyện thêm một chút nữa rồi chào về. Một đi không trở lại.
Nhiều năm về sau, trong một buổi họp mặt bạn bè, nhớ lại chuyện cũ cu Hợp thốt lên: "Tại sao lúc đó mình làm vậy ta? Tại sao nghe nói tới chữ chi bộ là thấy dội liền?", rồi cười hà hà: "Lại một chuyện tình nữa chưa kịp bắt đầu." Tôi chọc: "Mẹ em Đảng nhưng em có Đảng đâu, và mày phải làm sao cho cả đời em không thèm theo Đảng." "Nhưng lúc đó mình đâu có nghĩ vậy."
Friday, November 11, 2011
Mưa Tháng Mười
Sài Gòn tháng Mười trời mưa như trút. Nhiều khi mưa kéo dài cả hai ba ngày. Những cơn bão quần đảo mgoài khơi biển Đông quét những đám mây nặng trình trịch ngang trời. Ngồi trong lớp ngó ra, ban ngày mà trời tối om. Bụi mưa theo gió luồn qua khung cửa lưới khiến thân thể lạnh tê tê. Trời đất người đều sũng nước. Nhịp sống dường như chậm hẳn lại.
Sài Gòn chìm trong biển nước. Mỗi năm nước lại mỗi cao thêm. Bách Khoa nằm trên đất cao nhưng cũng không tránh khỏi lụt. Mặt bằng trường nghiêng thoai thoải từ Lý Thường Kiệt về Tô Hiến Thành. Những năm đầu bãi giữ xe trước B10 chưa bị ngập, nhưng từ năm thứ ba trở đi thì cũng bị ngập xâm xấp mắt cá. Xuôi Tô Hiến Thành xuống một chút đến gần góc Nguyễn Tri Phương thì nước ngập lên tới cả bánh xe. Rác từ bô rác gần đó theo nước lụt kéo ra trôi lềnh bềnh. Xuôi theo hướng Lý Thường Kiệt xuống đến Trần Quốc Toản thì cũng ngập lênh láng dưới đó. Đám ở Ký Túc Xá lội nước mà về. Còn đám ở ngoài, trừ đám nhà ở Tân Bình có thể đội mưa đạp xe về được, kẹt cứng trong trường.
Những ngày đó, tụi tôi thường tụ lại ở các hành lang của hai dãy B8, B10 đợi mưa nhẹ lại và nước rút bớt đi. Nhiều khi đến tận chín mười giờ tối mà vẫn chưa về được. Trường thì tối. Sinh viên đứng chen chúc nhau. Bầu không khí trầm trầm khiến cho mọi người trở nên tư lự. Chuyện trò trở nên nghiêm chỉnh hẳn ra.
Cu Hợp nhắc: "Hôm bữa con Mai dẫn mấy đứa anh em họ của nó bên Pháp về vô trường coi cho biết. Mấy đứa đó nhìn chỉ bảnh hơn thôi, chớ có gì hơn mình đâu." "Chỉ hơn ở chổ sống ở xứ tự do." - tôi đáp lại. "Tự do để làm cái gì?" "Để nói mà hổng sợ." Cu Khánh chêm vô: "Bọn ở phương Tây tự do quá nên sống đồi trụy." Đại Úy nói liền: "Tao khoái đồi trụy như tụi nó dị đó. Có gì thì đàng hoàng dẫn em vô phòng, chớ không có đè xuống giữa đồng." "Ha ha! Biết làm gì với tự do mới là điều quan trọng," - không nhớ đứa nào nói.
Lanh, từ Đại học Xây Dựng Hà Nội chuyển theo ông già vô, góp chuyện: "Có thực tụi nó ngon như mình nghĩ không? Hồi tao ở ngoài Bắc cứ nghĩ bọn sinh viên Sài Gòn thanh lịch, lãng mạng ghê lắm. Vô thấy tụi mày là mở mắt liền." Cu Hợp cười ha ha: "Tao đây mà còn chịu không nổi nữa. huống chi là mày. Cái thời lãng mạng đó qua từ khuya rồi. Từ khi bọn tao còn chưa kịp đi học lận." "Mắc chứng gì mà mày nghĩ tụi tao phải lãng mạng?" - cu Mạnh hỏi. "Thì đọc sách nghe nhạc rồi nghĩ vậy." - Lanh đáp. "Đánh nhau chí tử năm này sang tháng nọ như cha chú mình hồi đó thì hoặc là phải sắt máu hoặc là phải lãng mạng. Nếu không thì làm sao mà chịu cho nỗi." - tôi trầm ngâm. "Cũng như tụi mình bây giờ, nếu không lôm côm một chút thì không làm sao thấy thoải mái được/" - cu Danh cười. "Cái lãng mạng mày vừa nhắc tới đó gắn liền với cái giai đoạn từ quê ra tỉnh ở trong này. Còn thanh lịch tao nghì chỉ là ảo tưởng." - tôi tiếp. "Thôi bây giờ em xin nhường cái lãng mạng cho nhà bác đấy." - cu Mạnh sửa giọng. "Chào mừng quý khách lãng mạng đến với thời của những thằng lôm côm!" - cu Hợp tấu hài.
Cũng trong những ngày tháng Mười mưa dầm dề đó, Quỳnh quen với Hải.
Sài Gòn chìm trong biển nước. Mỗi năm nước lại mỗi cao thêm. Bách Khoa nằm trên đất cao nhưng cũng không tránh khỏi lụt. Mặt bằng trường nghiêng thoai thoải từ Lý Thường Kiệt về Tô Hiến Thành. Những năm đầu bãi giữ xe trước B10 chưa bị ngập, nhưng từ năm thứ ba trở đi thì cũng bị ngập xâm xấp mắt cá. Xuôi Tô Hiến Thành xuống một chút đến gần góc Nguyễn Tri Phương thì nước ngập lên tới cả bánh xe. Rác từ bô rác gần đó theo nước lụt kéo ra trôi lềnh bềnh. Xuôi theo hướng Lý Thường Kiệt xuống đến Trần Quốc Toản thì cũng ngập lênh láng dưới đó. Đám ở Ký Túc Xá lội nước mà về. Còn đám ở ngoài, trừ đám nhà ở Tân Bình có thể đội mưa đạp xe về được, kẹt cứng trong trường.
Những ngày đó, tụi tôi thường tụ lại ở các hành lang của hai dãy B8, B10 đợi mưa nhẹ lại và nước rút bớt đi. Nhiều khi đến tận chín mười giờ tối mà vẫn chưa về được. Trường thì tối. Sinh viên đứng chen chúc nhau. Bầu không khí trầm trầm khiến cho mọi người trở nên tư lự. Chuyện trò trở nên nghiêm chỉnh hẳn ra.
Cu Hợp nhắc: "Hôm bữa con Mai dẫn mấy đứa anh em họ của nó bên Pháp về vô trường coi cho biết. Mấy đứa đó nhìn chỉ bảnh hơn thôi, chớ có gì hơn mình đâu." "Chỉ hơn ở chổ sống ở xứ tự do." - tôi đáp lại. "Tự do để làm cái gì?" "Để nói mà hổng sợ." Cu Khánh chêm vô: "Bọn ở phương Tây tự do quá nên sống đồi trụy." Đại Úy nói liền: "Tao khoái đồi trụy như tụi nó dị đó. Có gì thì đàng hoàng dẫn em vô phòng, chớ không có đè xuống giữa đồng." "Ha ha! Biết làm gì với tự do mới là điều quan trọng," - không nhớ đứa nào nói.
Lanh, từ Đại học Xây Dựng Hà Nội chuyển theo ông già vô, góp chuyện: "Có thực tụi nó ngon như mình nghĩ không? Hồi tao ở ngoài Bắc cứ nghĩ bọn sinh viên Sài Gòn thanh lịch, lãng mạng ghê lắm. Vô thấy tụi mày là mở mắt liền." Cu Hợp cười ha ha: "Tao đây mà còn chịu không nổi nữa. huống chi là mày. Cái thời lãng mạng đó qua từ khuya rồi. Từ khi bọn tao còn chưa kịp đi học lận." "Mắc chứng gì mà mày nghĩ tụi tao phải lãng mạng?" - cu Mạnh hỏi. "Thì đọc sách nghe nhạc rồi nghĩ vậy." - Lanh đáp. "Đánh nhau chí tử năm này sang tháng nọ như cha chú mình hồi đó thì hoặc là phải sắt máu hoặc là phải lãng mạng. Nếu không thì làm sao mà chịu cho nỗi." - tôi trầm ngâm. "Cũng như tụi mình bây giờ, nếu không lôm côm một chút thì không làm sao thấy thoải mái được/" - cu Danh cười. "Cái lãng mạng mày vừa nhắc tới đó gắn liền với cái giai đoạn từ quê ra tỉnh ở trong này. Còn thanh lịch tao nghì chỉ là ảo tưởng." - tôi tiếp. "Thôi bây giờ em xin nhường cái lãng mạng cho nhà bác đấy." - cu Mạnh sửa giọng. "Chào mừng quý khách lãng mạng đến với thời của những thằng lôm côm!" - cu Hợp tấu hài.
Cũng trong những ngày tháng Mười mưa dầm dề đó, Quỳnh quen với Hải.
Saturday, November 5, 2011
Lôm Côm
Đi ngang qua các văn phòng khoa, bọn tôi thường nghe tiếng lách cách vọng ra. Ngó qua khung lưới cửa sổ thì thấy các thầy đang đánh đô mi nô. Thầy nào trò đó, nhưng không thấy có hứng với đô mi nô, đám sinh viên rủ nhau đánh bài. Đầu tiên là tiến lên. Sau binh xập xám chiếm lĩnh trận địa sát phạt. Trước mỗi tòa nhà trong trường, năm sáu sòng bài chơi rôm rả, chửi thề ỏm tỏi. Trường thấy loạn quá, ra lệnh cấm chơi bài trong sân trường. Tụi nó kéo nhau vô chơi trong các lớp học trống giờ. Chơi trong lớp bị gián đoạn hoài, tụi nó kéo nhau xuống các quán cà phê trong sân trường. Chơi từ sáng đến tối cũng hổng sao, có bài vở cũng mặc kệ. Trường cho phép thầy cô mở các quán này để cải thiện đời sống.
Quỳnh cũng nhớ lại: "Có lần Quỳnh và Thủy ngồi làm bài trong một lớp học, một đám kéo vô đánh bài, la hét ỏm tỏi. Quỳnh lên bảng viết: "KEEP SILENT!" Tụi nó ngó Quỳnh như ngó người từ hành tinh nào khác xuống vậy, rồi chơi bài tiếp ... tỉnh queo".
Chửi tục một lần cho hả bực hả tức nghe thấy đã, vậy là cả đám hùa vô chửi thề loạn xà ngầu, nhất là khi đánh bài và chơi đá banh. Nghe chửi nhau cứ như là kẻ thù truyền kiếp cũng không bằng. Đá banh mệt, nên nghe chửi cũng nóng. Thằng này thọt qua, thằng kia thọt lại. Chơi xấu riết đâm ra nóng mặt, cương nhau đòi đánh trên sân. Một lần, ngồi ngoài sân coi thấy ngứa mắt quá, tôi la lên: "Tụi mày lớn rồi, nhường nhịn nhau một chút không được sao?" Cu Hợp đứng trong sân la lại: "Không có nhường nhịn gì hết. Cứ đế cho tụi nó đập nhau. Phải đạp lên đầu nhau mà đá!" rồi cười ha hả, tung giò đá trái banh bay cái véo. Cả đám lồng lên, vừa đuổi theo banh vừa la: "Phải đạp lên đầu nhau mà đá!" Giỡn mà cũng là thiệt.
Thầy Lượng, trưởng khoa, nói: "Nói chuyện với nhau, chúng tôi đều đồng ý ở điểm là khóa các anh là khóa lôm côm nhất." Ngoài sân tụi nó chọc nhau: "Phải lôm côm cho các cu nể mặt."
Năm đó, 1988, Bách Khoa vào chung kết giải bóng đá sinh viên toàn thành. Bọn 84, làm nòng cốt cho đội, trước khi ra trường chơi những trận để đời, thắng giòn giã từ vòng ngoài vô tới vòng trong, cuối cùng gặp Nông Lâm. Đá chung kết ở sân Tao Đàn, nên sinh viên các trường ở Sài Gòn kéo đi thiệt đông, ngồi kín hết khán đài. Nông Lâm ở Thủ Đức cũng thuê xe buýt chở sinh viên lên góp mặt. Trận chung kết bọn Nông Lâm chơi trâu bò quá, Bách Khoa tấn công hoài mà vẫn không sút tung lưới cầu môn Nông Lâm được. Bách Khoa trên chân Nông Lâm một chút, nhưng thằng gôn Nông Lâm chụp như cầu thủ chuyên nghiệp. Mỗi lần nó cản được những cú sút chết người, trên khán đài bọn Bách Khoa gào lên: "Bắt thằng gôn, lột ra, treo khung thành phơi nắng!". Bọn Nông Lâm trụ qua hai hiệp chính rồi hiệp phụ. Đá phạt đền luân lưu, thằng gôn Nông Lâm đẩy được hai trái. Nông Lâm vô địch. Bọn Bách Khoa tràn từ khán đài xuống sân cỏ. Cầu thủ Nông Lâm lùi ra cửa hậu, chui lên xe buýt, đóng kín cửa lại. Bọn Bách Khoa bao vây các xe buýt của Nông Lâm. Một hòn đá bay lên, đập bể cửa kính xe buýt chở cầu thủ Nông Lâm. Lễ trao cúp bị hủy bỏ. Đội Bách Khoa bị cấm đá ba năm. Giải bóng đá Sinh Viên không được phép chơi ở sân Tao Đàn nữa.
Quỳnh cũng nhớ lại: "Có lần Quỳnh và Thủy ngồi làm bài trong một lớp học, một đám kéo vô đánh bài, la hét ỏm tỏi. Quỳnh lên bảng viết: "KEEP SILENT!" Tụi nó ngó Quỳnh như ngó người từ hành tinh nào khác xuống vậy, rồi chơi bài tiếp ... tỉnh queo".
Chửi tục một lần cho hả bực hả tức nghe thấy đã, vậy là cả đám hùa vô chửi thề loạn xà ngầu, nhất là khi đánh bài và chơi đá banh. Nghe chửi nhau cứ như là kẻ thù truyền kiếp cũng không bằng. Đá banh mệt, nên nghe chửi cũng nóng. Thằng này thọt qua, thằng kia thọt lại. Chơi xấu riết đâm ra nóng mặt, cương nhau đòi đánh trên sân. Một lần, ngồi ngoài sân coi thấy ngứa mắt quá, tôi la lên: "Tụi mày lớn rồi, nhường nhịn nhau một chút không được sao?" Cu Hợp đứng trong sân la lại: "Không có nhường nhịn gì hết. Cứ đế cho tụi nó đập nhau. Phải đạp lên đầu nhau mà đá!" rồi cười ha hả, tung giò đá trái banh bay cái véo. Cả đám lồng lên, vừa đuổi theo banh vừa la: "Phải đạp lên đầu nhau mà đá!" Giỡn mà cũng là thiệt.
Thầy Lượng, trưởng khoa, nói: "Nói chuyện với nhau, chúng tôi đều đồng ý ở điểm là khóa các anh là khóa lôm côm nhất." Ngoài sân tụi nó chọc nhau: "Phải lôm côm cho các cu nể mặt."
Năm đó, 1988, Bách Khoa vào chung kết giải bóng đá sinh viên toàn thành. Bọn 84, làm nòng cốt cho đội, trước khi ra trường chơi những trận để đời, thắng giòn giã từ vòng ngoài vô tới vòng trong, cuối cùng gặp Nông Lâm. Đá chung kết ở sân Tao Đàn, nên sinh viên các trường ở Sài Gòn kéo đi thiệt đông, ngồi kín hết khán đài. Nông Lâm ở Thủ Đức cũng thuê xe buýt chở sinh viên lên góp mặt. Trận chung kết bọn Nông Lâm chơi trâu bò quá, Bách Khoa tấn công hoài mà vẫn không sút tung lưới cầu môn Nông Lâm được. Bách Khoa trên chân Nông Lâm một chút, nhưng thằng gôn Nông Lâm chụp như cầu thủ chuyên nghiệp. Mỗi lần nó cản được những cú sút chết người, trên khán đài bọn Bách Khoa gào lên: "Bắt thằng gôn, lột ra, treo khung thành phơi nắng!". Bọn Nông Lâm trụ qua hai hiệp chính rồi hiệp phụ. Đá phạt đền luân lưu, thằng gôn Nông Lâm đẩy được hai trái. Nông Lâm vô địch. Bọn Bách Khoa tràn từ khán đài xuống sân cỏ. Cầu thủ Nông Lâm lùi ra cửa hậu, chui lên xe buýt, đóng kín cửa lại. Bọn Bách Khoa bao vây các xe buýt của Nông Lâm. Một hòn đá bay lên, đập bể cửa kính xe buýt chở cầu thủ Nông Lâm. Lễ trao cúp bị hủy bỏ. Đội Bách Khoa bị cấm đá ba năm. Giải bóng đá Sinh Viên không được phép chơi ở sân Tao Đàn nữa.
Wednesday, November 2, 2011
Trông Lên (II)
Tới tận cuối năm thứ tư, tụi tôi mới có cơ hội học với thầy Hoàn. Tóc thầy đã bạc trắng, nhưng mặt thì không thấy già lắm. Thầy là một trong những tiến sĩ đầu tiên trong chuyên ngành của mình ở miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa. Nghe nói thầy làm nghiên cứu khoa học khá lâu ở Hungary trước khi về nước. Thầy có đôi mắt buồn và nói giọng Hà Nội nhẹ nhàng. Thầy tỏ ra rất khiêm tốn và trầm lặng, hầu như chẳng nói gì về bản thân mình. Nếu không nghe các thầy khác nói thì bọn tôi cũng chẳng biết được thầy là một chuyên viên đầu đàn trong lĩnh vực của mình ở Việt Nam. Nếu không lên lớp giảng, thì thầy cặm cụi suốt ngày trong phòng thí nghiệm hoặc trong văn phòng. Bọn tôi nể và mến thầy vì lượng kiến thức dồi dào mà thầy cung cấp cho sinh viên. Đồ án môn học của thầy là đồ án hào hứng nhất bọn tôi có được ở trường. Bọn tôi được tự do lựa chọn đề tài. Kiến thức là từ cách ta học chứ không phải cách ta kiếm điểm. Thầy là người trí thức làm tròn trách nhiệm của mình.
Thầy Đảo thích nói chuyện thời sự hơn thích dạy. Thầy từ Ba Lan về. Nói chuyện với thầy bọn tôi cảm nhận được một dòng suy nghĩ khác đang chảy ngấm ngầm trong các giai tầng chính thống. Có lẽ thầy cũng sợ vạ miệng, nên chỉ dám nói xa hơn một bước so với cái công cuộc cải tổ và đổi mới ngập ngừng đang được tiến hành. Thầy trò hay nói với nhau về những chuyện nhỏ đáng làm nhưng vẫn không làm được. Nghe mà thấy đất nước sao mù mịt quá.
Thầy Chính thì thích nói về bản thân mình. Thầy tự tuyên bố trong lãnh vực thiết kế cao ốc, chẳng ai qua được thầy. Nghe thầy nói suốt hai mùa liên tiếp thì bọn tôi hiểu ra. Có lẽ thầy tự ti vì "nổi tiếng" dị đó mà chẳng có thiết kế hoặc công trình để đời nào mang ra khoe được nên phải tự tôn mình lên để bù lại. Cô Thúy nói hồi học ở Liên Xô, thầy học về kết cấu gạch đá chớ không phải bê tông. Khi Imexco bị đốt cháy, thầy đứng trước lớp tuyên bố nếu họ không mời thầy thì ở Sài Gòn này chẳng còn ai đủ sức để sửa lại tòa cao ốc đó. Công ty chủ quản không mời thầy mà mời Đài Loan qua sửa.
Thầy Chính khoe mình có bộ sách gốc của Corbusier, một tác giả danh giá người Pháp đặt nền móng cho những lý thuyết căn bản của kết cấu bê tông. Tụi tôi giỡn với nhau chắc thầy chôm sách ở thư viện khoa quá. Trường Phú Thọ có một truyền thống hay là các thầy cô nếu có cơ hội đi ngoại quốc thì ráng mang về những sách báo có giá trị góp vô thư viện riêng của mỗi phân khoa Đại học để mọi người cùng có cơ hội tham khảo những kiến thức mới. Sau năm 75, sách trong các thư viện nhỏ đó cứ mất lần lần. Ông thư ký già nói mấy thầy cứ mượn sách về đọc mà chẳng ông nào chịu trả. Đến thời tụi tôi vô học thì chỉ còn những tủ kính trống trơn.
Thầy Hân dạy Toán Cao Cấp mà cứ móc chuyện dạy kèm luyện thi đại học vô. Thầy khoe chưa có học trò nào của thầy thi đại học rớt. Thầy chỉ luyện học trò thi đề A1 mà thôi và học trò phải được thầy lựa chớ không phải ai muốn học cũng được. Thầy lấy trọn gói hai cây, thi rớt thì thầy trả lại. Nghe riết thấy bực, nhất là khi tụi tôi đã phải chiến đấu cật lực để qua cái ải đó. Hải phệ hả họng ngáp bị thầy đuổi ra khỏi lớp. Có đứa chửi đổng bộ ế hàng hay sao mà phải vô lớp Sơn Đông mãi võ. Có đứa kháy đã lựa học trò giỏi mà luyện rồi thì có gì hay ho đâu mà gáy. Có đứa đòi phá chiếc cúp Nữ Hoàng đỏ chói của thầy cho bỏ ghét. Chiếc cúp nhìn cũng láng và bảnh chọe y như thầy vậy. Bực thì nói vậy thôi, chứ hơi đâu làm cho mệt.
Năm cuối cùng ở trường, tin thầy Huyên đạo mạo bị kỷ luật nội bộ vì cái tội ... dê lọt tới tai sinh viên. Hai vợ chồng thầy Huyên và hai vợ chồng thầy Học cùng dạy chung một khoa. Vợ chồng thầy Huyên đã ở tuổi sồn sồn. Vợ chồng thầy Học còn trẻ. Vợ thầy Huyên và thầy Học có được suất du học bên Nga. Ở nhà thầy Huyên dê vợ thầy Học. Vợ thầy Học chịu không nỗi, báo cáo lên. Chuyện nhiều người biết nên dễ lộ. Nghe xong chỉ biết lắc đầu cười. Tụi tôi chán trường lắm rồi. Chỉ muốn dứt nợ, chui ra cho rồi, hơi đâu để ý nữa.
Thầy Đảo thích nói chuyện thời sự hơn thích dạy. Thầy từ Ba Lan về. Nói chuyện với thầy bọn tôi cảm nhận được một dòng suy nghĩ khác đang chảy ngấm ngầm trong các giai tầng chính thống. Có lẽ thầy cũng sợ vạ miệng, nên chỉ dám nói xa hơn một bước so với cái công cuộc cải tổ và đổi mới ngập ngừng đang được tiến hành. Thầy trò hay nói với nhau về những chuyện nhỏ đáng làm nhưng vẫn không làm được. Nghe mà thấy đất nước sao mù mịt quá.
Thầy Chính thì thích nói về bản thân mình. Thầy tự tuyên bố trong lãnh vực thiết kế cao ốc, chẳng ai qua được thầy. Nghe thầy nói suốt hai mùa liên tiếp thì bọn tôi hiểu ra. Có lẽ thầy tự ti vì "nổi tiếng" dị đó mà chẳng có thiết kế hoặc công trình để đời nào mang ra khoe được nên phải tự tôn mình lên để bù lại. Cô Thúy nói hồi học ở Liên Xô, thầy học về kết cấu gạch đá chớ không phải bê tông. Khi Imexco bị đốt cháy, thầy đứng trước lớp tuyên bố nếu họ không mời thầy thì ở Sài Gòn này chẳng còn ai đủ sức để sửa lại tòa cao ốc đó. Công ty chủ quản không mời thầy mà mời Đài Loan qua sửa.
Thầy Chính khoe mình có bộ sách gốc của Corbusier, một tác giả danh giá người Pháp đặt nền móng cho những lý thuyết căn bản của kết cấu bê tông. Tụi tôi giỡn với nhau chắc thầy chôm sách ở thư viện khoa quá. Trường Phú Thọ có một truyền thống hay là các thầy cô nếu có cơ hội đi ngoại quốc thì ráng mang về những sách báo có giá trị góp vô thư viện riêng của mỗi phân khoa Đại học để mọi người cùng có cơ hội tham khảo những kiến thức mới. Sau năm 75, sách trong các thư viện nhỏ đó cứ mất lần lần. Ông thư ký già nói mấy thầy cứ mượn sách về đọc mà chẳng ông nào chịu trả. Đến thời tụi tôi vô học thì chỉ còn những tủ kính trống trơn.
Thầy Hân dạy Toán Cao Cấp mà cứ móc chuyện dạy kèm luyện thi đại học vô. Thầy khoe chưa có học trò nào của thầy thi đại học rớt. Thầy chỉ luyện học trò thi đề A1 mà thôi và học trò phải được thầy lựa chớ không phải ai muốn học cũng được. Thầy lấy trọn gói hai cây, thi rớt thì thầy trả lại. Nghe riết thấy bực, nhất là khi tụi tôi đã phải chiến đấu cật lực để qua cái ải đó. Hải phệ hả họng ngáp bị thầy đuổi ra khỏi lớp. Có đứa chửi đổng bộ ế hàng hay sao mà phải vô lớp Sơn Đông mãi võ. Có đứa kháy đã lựa học trò giỏi mà luyện rồi thì có gì hay ho đâu mà gáy. Có đứa đòi phá chiếc cúp Nữ Hoàng đỏ chói của thầy cho bỏ ghét. Chiếc cúp nhìn cũng láng và bảnh chọe y như thầy vậy. Bực thì nói vậy thôi, chứ hơi đâu làm cho mệt.
Năm cuối cùng ở trường, tin thầy Huyên đạo mạo bị kỷ luật nội bộ vì cái tội ... dê lọt tới tai sinh viên. Hai vợ chồng thầy Huyên và hai vợ chồng thầy Học cùng dạy chung một khoa. Vợ chồng thầy Huyên đã ở tuổi sồn sồn. Vợ chồng thầy Học còn trẻ. Vợ thầy Huyên và thầy Học có được suất du học bên Nga. Ở nhà thầy Huyên dê vợ thầy Học. Vợ thầy Học chịu không nỗi, báo cáo lên. Chuyện nhiều người biết nên dễ lộ. Nghe xong chỉ biết lắc đầu cười. Tụi tôi chán trường lắm rồi. Chỉ muốn dứt nợ, chui ra cho rồi, hơi đâu để ý nữa.
Sunday, October 30, 2011
Trông lên (I)
Bách Khoa nguyên là Học viện Kỹ thuật Phú Thọ cũ, gọi tắt là Phú Thọ. Ngôi trường tọa lạc trên một khu đất mười hai mẫu tây. Kiến trúc đơn giản và khiêm tốn, phản ánh điều kiện của một nước nghèo. Nhưng quanh cảnh không vì thế mà thiếu sự đàng hoàng, tươm tất và trang nghiêm của môi trường học vấn. Nhìn chung, Phú Thọ là một cố gắng đáng kể trong phát triển giáo dục cấp cao ở miền Nam Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt. Thời hậu chiến, quang cảnh trường sa sút nhiều, nhưng nhìn vẫn còn ra vẻ lắm.
Khi chúng tôi nhập học, nhân sự cũ không còn nhiều nữa. Những người được gọi là cũ thường là những người trẻ sáng láng học trong những khóa cuối của Phú Thọ và được giữ lại trường để đào tạo tiếp và giảng dạy.
Thầy Toản là một người trong số đó. Nghe nói ông từng là thủ khoa, và ra trường đúng ngay thời điểm cuộc nội chiến kết thúc. Tương lai sụp đổ và bị phân biệt đối xử, nên ông hoàn toàn thất vọng, và theo thời gian thì trở nên bệ rạc. Và từ bệ rạc đi đến hoàn toàn mất tư cách. Ông vô lớp giảng bài lè nhè, quần áo dơ bẩn, không buồn ngó mặt học sinh. Đứa nào muốn học thì học, không thì thôi. Lúc làm đồ án, cần hỏi gì thì bọn tôi đi kiếm ông ở quán bia hơi gần trường. Tự hủy hoại nên sau này ông chết sớm. Cũng may là ông không bị khùng như cái ông tiến sĩ mà mỗi sáng bọn tôi hay gặp đứng điều khiển giao thông khi đi học. Đôi khi tụi tôi thắc mắc sao ông không nghĩ quách cho rồi, ra ngòai đi làm sống qua ngày hơn là làm Chí Phèo trong trường.
Những người khác nhìn cũng có vẻ chán nản, trầm mặc, hoặc buồn bã, nhưng nhìn chung vẫn ráng giữ tư cách. Sau này, khi chủ nghĩa Cộng Sản chỉ còn là cái vỏ và bang giao quốc tế mở rộng, nhiều người trong số này kiếm được suất du học ở Học Viện Kỹ Thuật Á Châu - AIT, và lấy cái bằng tiến sĩ ở cái tuổi không còn trẻ nữa, nhưng vẫn còn đủ sáng láng để kiếm được những chân giảng dạy và nghiên cứu ở các đại học các quốc gia lân cận, thỏa được ước mơ của mình.
Thầy Tòng là một trong số những người hiếm hoi từ ngoại quốc trở về sau năm 1975. Ở thầy vừa có cái vẻ đáng mến rất thu hút người khác, vừa có cái vẻ chững chạc khiến người ta nể trọng. Thầy dạy hay, viết sách có giá trị, và nghiên cứu rất giỏi trong điều kiện khó khăn đến tưởng như bó tay của thời hậu chiến và cấm vận. Năm 1990, khi bộ Giáo Dục thử nghiệm bầu cử hiệu trưởng ở các trường thí điểm, thầy ra ứng cử Hiệu trưởng Đại học Bách Khoa trong tư cách ứng viên độc lập và nhận được sự ủng hộ nồng nhiệt từ các giảng viên bất kể gốc gác. Khi nhận thấy thầy Tòng sẽ đắc cử, trường hoảng quá ra quyết định nhân viên khối hành chính, và các bí thư chi đoàn khoa cũng được quyền bỏ phiếu, và trong bóng tối thì bảo phải bầu cho ai. Thầy Tòng thất cử trong gang tấc. Một bầu không khí chán nản lại bao trùm khắp trường.
Thất bại ở trường, thầy Tòng có một số cố gắng nữa trong ra ứng cử Hội đồng Nhân dân quận nhà cũng trong tư cách ứng viên độc lập trong khuôn khổ của Mặt Trận Tổ Quốc, nhưng đều bị chận. Đôi khi bọn tôi thắc mắc không biết khi về già thầy sẽ nghĩ gì và viết gì về lý tưởng của mình nhưng hình như thầy hoàn toàn im lặng.
Sau khi hiệu trưởng mới được bầu lên, nhiều giải pháp tháo gỡ cho tài chính của trường và tăng lương bổng cho giảng viên và nhân viên được đưa ra. Một trong số đó, là đập bỏ hàng rào kín cổng cao tường ngày trước, xây hai trăm ki ốt bao kín mặt tiền hai con đường Lý Thường Kiệt và Tô Hiến Thành, giao cho giảng viên và nhân viên làm ăn hoặc cho mướn lại, nộp "ngân sách" cho trường. Tinh thần thời đại mới là từ bỏ tháp ngà xông ra chợ. Nhu cầu thực thì canh cánh mỗi ngày mà đạo thì quá xa vời, nên hơn mười lăm năm sau hàng rào ki ốt bao quanh trường vẫn còn đó, người buôn kẻ bán tấp nập. Đất nước đã thay da đổi thịt nhờ tiếp cận được sinh lộ kinh tế thị trường và nguồn đầu tư ngoại quốc. Sinh viên bây giờ đi học phải đóng đủ thứ tiền, phải bỏ áo trong quần, mang giầy, len qua chợ để vô trường. Đứa nào lạng quạng bận quần sọt đi học là bị bảo vệ đuổi ra liền. So với đám lôm côm hồi trước, bảnh chịu không nổi. Còn trường thì... nhìn lôm côm không chịu nỗi.
Khi chúng tôi nhập học, nhân sự cũ không còn nhiều nữa. Những người được gọi là cũ thường là những người trẻ sáng láng học trong những khóa cuối của Phú Thọ và được giữ lại trường để đào tạo tiếp và giảng dạy.
Thầy Toản là một người trong số đó. Nghe nói ông từng là thủ khoa, và ra trường đúng ngay thời điểm cuộc nội chiến kết thúc. Tương lai sụp đổ và bị phân biệt đối xử, nên ông hoàn toàn thất vọng, và theo thời gian thì trở nên bệ rạc. Và từ bệ rạc đi đến hoàn toàn mất tư cách. Ông vô lớp giảng bài lè nhè, quần áo dơ bẩn, không buồn ngó mặt học sinh. Đứa nào muốn học thì học, không thì thôi. Lúc làm đồ án, cần hỏi gì thì bọn tôi đi kiếm ông ở quán bia hơi gần trường. Tự hủy hoại nên sau này ông chết sớm. Cũng may là ông không bị khùng như cái ông tiến sĩ mà mỗi sáng bọn tôi hay gặp đứng điều khiển giao thông khi đi học. Đôi khi tụi tôi thắc mắc sao ông không nghĩ quách cho rồi, ra ngòai đi làm sống qua ngày hơn là làm Chí Phèo trong trường.
Những người khác nhìn cũng có vẻ chán nản, trầm mặc, hoặc buồn bã, nhưng nhìn chung vẫn ráng giữ tư cách. Sau này, khi chủ nghĩa Cộng Sản chỉ còn là cái vỏ và bang giao quốc tế mở rộng, nhiều người trong số này kiếm được suất du học ở Học Viện Kỹ Thuật Á Châu - AIT, và lấy cái bằng tiến sĩ ở cái tuổi không còn trẻ nữa, nhưng vẫn còn đủ sáng láng để kiếm được những chân giảng dạy và nghiên cứu ở các đại học các quốc gia lân cận, thỏa được ước mơ của mình.
Thầy Tòng là một trong số những người hiếm hoi từ ngoại quốc trở về sau năm 1975. Ở thầy vừa có cái vẻ đáng mến rất thu hút người khác, vừa có cái vẻ chững chạc khiến người ta nể trọng. Thầy dạy hay, viết sách có giá trị, và nghiên cứu rất giỏi trong điều kiện khó khăn đến tưởng như bó tay của thời hậu chiến và cấm vận. Năm 1990, khi bộ Giáo Dục thử nghiệm bầu cử hiệu trưởng ở các trường thí điểm, thầy ra ứng cử Hiệu trưởng Đại học Bách Khoa trong tư cách ứng viên độc lập và nhận được sự ủng hộ nồng nhiệt từ các giảng viên bất kể gốc gác. Khi nhận thấy thầy Tòng sẽ đắc cử, trường hoảng quá ra quyết định nhân viên khối hành chính, và các bí thư chi đoàn khoa cũng được quyền bỏ phiếu, và trong bóng tối thì bảo phải bầu cho ai. Thầy Tòng thất cử trong gang tấc. Một bầu không khí chán nản lại bao trùm khắp trường.
Thất bại ở trường, thầy Tòng có một số cố gắng nữa trong ra ứng cử Hội đồng Nhân dân quận nhà cũng trong tư cách ứng viên độc lập trong khuôn khổ của Mặt Trận Tổ Quốc, nhưng đều bị chận. Đôi khi bọn tôi thắc mắc không biết khi về già thầy sẽ nghĩ gì và viết gì về lý tưởng của mình nhưng hình như thầy hoàn toàn im lặng.
Sau khi hiệu trưởng mới được bầu lên, nhiều giải pháp tháo gỡ cho tài chính của trường và tăng lương bổng cho giảng viên và nhân viên được đưa ra. Một trong số đó, là đập bỏ hàng rào kín cổng cao tường ngày trước, xây hai trăm ki ốt bao kín mặt tiền hai con đường Lý Thường Kiệt và Tô Hiến Thành, giao cho giảng viên và nhân viên làm ăn hoặc cho mướn lại, nộp "ngân sách" cho trường. Tinh thần thời đại mới là từ bỏ tháp ngà xông ra chợ. Nhu cầu thực thì canh cánh mỗi ngày mà đạo thì quá xa vời, nên hơn mười lăm năm sau hàng rào ki ốt bao quanh trường vẫn còn đó, người buôn kẻ bán tấp nập. Đất nước đã thay da đổi thịt nhờ tiếp cận được sinh lộ kinh tế thị trường và nguồn đầu tư ngoại quốc. Sinh viên bây giờ đi học phải đóng đủ thứ tiền, phải bỏ áo trong quần, mang giầy, len qua chợ để vô trường. Đứa nào lạng quạng bận quần sọt đi học là bị bảo vệ đuổi ra liền. So với đám lôm côm hồi trước, bảnh chịu không nổi. Còn trường thì... nhìn lôm côm không chịu nỗi.
Saturday, October 29, 2011
Tuấn
"Nhớ Tuấn không?", tôi hỏi. "Tuấn nào?", Quỳnh hỏi lại. "Tuấn dạy chính trị đó." "Hi hi! Cái nhân vật đặc biệt đó, nhắc lại là nhớ liền."
Tụi tôi gặp Tuấn ngay mùa đầu tiên của năm nhất. Tuấn dạy môn Lịch Sử Đảng, nhìn trẻ trung, đẹp trai. Tuấn tự giới thiệu: "Tôi nguyên là kỹ sư cơ khí, tốt nghiệp đại học Bách Khoa Hà Nội. Nhưng triết học Mác Lê Nin mới là nguồn cảm hứng và niềm say mê mà tôi nguyện hiến trọn đời theo đuổi. Đây là môn đầu tiên chúng ta gặp gỡ nhau. Chúng ta sẽ còn gặp gỡ nhau nhiều dịp nữa sau này." Tụi tôi quay lại nhìn nhau cười: "Tay này chắc dỡ quá, chẳng học hành được gì, biết gì đâu mà đòi làm kỹ sư cơ khí, mới chọn theo cái nghành wải độ này." Rồi lẳng lặng rủ nhau biến. Thoáng chốc, trong giảng đường chỉ còn một nữa.
Từ đó về sau, Tuấn chơi trò điểm danh. Lúc thì đầu giờ, lúc thì cuối giờ. Nhưng sinh viên canh sẳn, nên lúc điểm danh không bao giờ thiếu. Tuy vậy, giảng đường nhìn vẫn trống trơn. Đến khi thi học kỳ, một nữa lớp bị cho rớt, không cần biết có làm trúng hay không. Tuấn có tài nhớ mặt. Thi lại, vẫn một nữa của số đó rớt tiếp. Đứa nào chịu đi năn nỉ thì được cho qua. Mấy đứa khác mặc kệ. Trường coi như bỏ nếu nợ sáu đơn vị trở xuống khi ra trường. Môn này chỉ có ba.
Tụi tôi gặp lại Tuấn trong môn Triết Học Mác Lê Nin. Môn này bốn đơn vị, nên sinh viên có mặt đầy đủ. Tuấn khoái chỉ, giảng thao thao bất tuyệt. Tuấn diễn như kịch trên bục giảng, bước qua bước lại, tay thọc túi quần, mắt ngước lên, vẻ đăm chiêu, thỉnh thoảng rút một thẻ ghi chú gì đó ra liếc vô. Mỗi lần như vậy, tụi tôi nhìn nhau cười: "Bùa đó!" "Hồi đi học, bùa cóp py của Tuấn đó!" Tuấn nghe được tức lắm, nhưng ra vẻ không chấp, cho qua.
Một bữa, liên hệ đến thời sự, Tuấn vừa đọc xong câu nói của Ri Gân: "Chủ nghĩa Cộng Sản là quái thai của thời đại." để chuẩn bị lên án, thì lập tức dưới giảng đường vọng lên: "Đúng!" Tuấn biến sắc, mắt lom lom nhìn xuống giảng đường tối om, lồng lộn bước qua bước lại, cuối cùng bật ra: "Đồ chó con!"
Cuối mùa một nữa lớp rớt.
Khi bọn tôi ra trường vào mùa hè 1991, nhiều đứa phải thi lại môn này, đều được cho qua. Đông Âu và Liên Xô đã và đang trải qua những biến động ngoạn mục.
Những môn chính trị còn lại, bọn tôi học với những người khác, đều qua yên thắm. Dạy và học chỉ là thủ tục. Ngoài ra còn một đợt học chính trị trong mùa quân sự cuối cùng nữa. Người giảng là trưởng khoa Quân sự, một viên sĩ quan khắc khổ. Dăm ba đứa bị đuổi ra khỏi lớp vì tỏ thái độ hờ hững quá lộ liễu. Rồi cũng qua.
Bọn tôi vẫn còn nhiều dịp nhắc tới Tuấn sau này.
Ra trưòng, trời dun rủi sao Khánh lại làm việc chung với cô em gái của Tuấn. Cô này tính tình rất dễ thương, và chửi ông anh mình quá trời. Nhờ vậy tụi tôi lại biết được đời tư của Tuấn. Nhà Tuấn từ miền Bắc vào, gốc gác ra sao không rõ. Tuấn là con trai lớn và tiếng là cán bộ giảng dạy nhưng chỉ báo hại mẹ. Nhà có được mặt tiền, nên mẹ mở tiệm cà phê. Tuấn chẳng mang về được đồng bạc nào, đã vậy sáng sáng còn thụt két mẹ, kiếm chút tiền đi ăn sáng, cà phê cà pháo rồi mới đến trường. Mẹ Tuấn đem một đứa con gái bà con xa ngoài Bắc vô để phụ giúp việc buôn bán. Tuấn thậm thọt bậy, khiến cô bé có bầu, phải phá và gởi về Bắc lại, khiến cả nhà mang tiếng.
Một lần khác, có mấy đứa cùng nhau ra Sài Gòn, lại gặp Tuấn đi chung với một cô gái. Tụi nó thọt nhau cười. Tuấn nhận ra học trò cũ, cứ dẫn cô gái lượn ra lượn lại trước mặt tụi nó, hy vọng sẽ được chào. Nhưng cả đám làm lơ.
"Hết nợ nần rồi!", Quỳnh cười.
Tụi tôi gặp Tuấn ngay mùa đầu tiên của năm nhất. Tuấn dạy môn Lịch Sử Đảng, nhìn trẻ trung, đẹp trai. Tuấn tự giới thiệu: "Tôi nguyên là kỹ sư cơ khí, tốt nghiệp đại học Bách Khoa Hà Nội. Nhưng triết học Mác Lê Nin mới là nguồn cảm hứng và niềm say mê mà tôi nguyện hiến trọn đời theo đuổi. Đây là môn đầu tiên chúng ta gặp gỡ nhau. Chúng ta sẽ còn gặp gỡ nhau nhiều dịp nữa sau này." Tụi tôi quay lại nhìn nhau cười: "Tay này chắc dỡ quá, chẳng học hành được gì, biết gì đâu mà đòi làm kỹ sư cơ khí, mới chọn theo cái nghành wải độ này." Rồi lẳng lặng rủ nhau biến. Thoáng chốc, trong giảng đường chỉ còn một nữa.
Từ đó về sau, Tuấn chơi trò điểm danh. Lúc thì đầu giờ, lúc thì cuối giờ. Nhưng sinh viên canh sẳn, nên lúc điểm danh không bao giờ thiếu. Tuy vậy, giảng đường nhìn vẫn trống trơn. Đến khi thi học kỳ, một nữa lớp bị cho rớt, không cần biết có làm trúng hay không. Tuấn có tài nhớ mặt. Thi lại, vẫn một nữa của số đó rớt tiếp. Đứa nào chịu đi năn nỉ thì được cho qua. Mấy đứa khác mặc kệ. Trường coi như bỏ nếu nợ sáu đơn vị trở xuống khi ra trường. Môn này chỉ có ba.
Tụi tôi gặp lại Tuấn trong môn Triết Học Mác Lê Nin. Môn này bốn đơn vị, nên sinh viên có mặt đầy đủ. Tuấn khoái chỉ, giảng thao thao bất tuyệt. Tuấn diễn như kịch trên bục giảng, bước qua bước lại, tay thọc túi quần, mắt ngước lên, vẻ đăm chiêu, thỉnh thoảng rút một thẻ ghi chú gì đó ra liếc vô. Mỗi lần như vậy, tụi tôi nhìn nhau cười: "Bùa đó!" "Hồi đi học, bùa cóp py của Tuấn đó!" Tuấn nghe được tức lắm, nhưng ra vẻ không chấp, cho qua.
Một bữa, liên hệ đến thời sự, Tuấn vừa đọc xong câu nói của Ri Gân: "Chủ nghĩa Cộng Sản là quái thai của thời đại." để chuẩn bị lên án, thì lập tức dưới giảng đường vọng lên: "Đúng!" Tuấn biến sắc, mắt lom lom nhìn xuống giảng đường tối om, lồng lộn bước qua bước lại, cuối cùng bật ra: "Đồ chó con!"
Cuối mùa một nữa lớp rớt.
Khi bọn tôi ra trường vào mùa hè 1991, nhiều đứa phải thi lại môn này, đều được cho qua. Đông Âu và Liên Xô đã và đang trải qua những biến động ngoạn mục.
Những môn chính trị còn lại, bọn tôi học với những người khác, đều qua yên thắm. Dạy và học chỉ là thủ tục. Ngoài ra còn một đợt học chính trị trong mùa quân sự cuối cùng nữa. Người giảng là trưởng khoa Quân sự, một viên sĩ quan khắc khổ. Dăm ba đứa bị đuổi ra khỏi lớp vì tỏ thái độ hờ hững quá lộ liễu. Rồi cũng qua.
Bọn tôi vẫn còn nhiều dịp nhắc tới Tuấn sau này.
Ra trưòng, trời dun rủi sao Khánh lại làm việc chung với cô em gái của Tuấn. Cô này tính tình rất dễ thương, và chửi ông anh mình quá trời. Nhờ vậy tụi tôi lại biết được đời tư của Tuấn. Nhà Tuấn từ miền Bắc vào, gốc gác ra sao không rõ. Tuấn là con trai lớn và tiếng là cán bộ giảng dạy nhưng chỉ báo hại mẹ. Nhà có được mặt tiền, nên mẹ mở tiệm cà phê. Tuấn chẳng mang về được đồng bạc nào, đã vậy sáng sáng còn thụt két mẹ, kiếm chút tiền đi ăn sáng, cà phê cà pháo rồi mới đến trường. Mẹ Tuấn đem một đứa con gái bà con xa ngoài Bắc vô để phụ giúp việc buôn bán. Tuấn thậm thọt bậy, khiến cô bé có bầu, phải phá và gởi về Bắc lại, khiến cả nhà mang tiếng.
Một lần khác, có mấy đứa cùng nhau ra Sài Gòn, lại gặp Tuấn đi chung với một cô gái. Tụi nó thọt nhau cười. Tuấn nhận ra học trò cũ, cứ dẫn cô gái lượn ra lượn lại trước mặt tụi nó, hy vọng sẽ được chào. Nhưng cả đám làm lơ.
"Hết nợ nần rồi!", Quỳnh cười.
Friday, October 28, 2011
Cu
"Để tỏ lòng kính trọng người lớn tuổi, người Việt gọi bằng gì?" Ben Hieng hỏi. Anh chàng này là một trong bốn sinh viên Cam Pu Chia học ở khóa 86. Họ là những người đã ở tuổi ba mươi, rất hiền lành, và chăm chỉ, nhưng sức học chỉ có vậy thôi. Làm sao mà học nổi nữa khi đã từng trải qua cái địa ngục trần gian ở bên xứ đó. Nghe nói bằng cấp, dĩ nhiên là bằng hữu nghị, sẽ giúp họ có được những chức vụ lãnh đạo trong những sở giao thông ở Cam Pu Chia. Hẳn nhiên họ phải là đảng viên rồi.
"Gọi bằng cụ," tôi trả lời. "Nhưng gọi bằng cụ nhiều khi thấy nặng nề quá, nên thường bỏ bớt dấu nặng đi gọi là cu. Nghe thân thiết hơn."
Ben Hieng cười. Được đà tôi làm tới: "Chẳng hạn có thể gọi cụ Hồ là cu Hồ." Mạnh U và Hợp Cà Nhõng ngã lăn ra cười. Thằng Khánh đế vô thêm: "Nếu muốn tỏ sự kính trọng mấy thầy thì gặp họ chào như vầy nè: "Chào cu Thiện! Chào cu Lượng! Chào cu Toản!" Phải như vậy đó."
Ben Hieng lãng qua chỗ khác. Tụi tôi quay lại nhìn nhau: "Nghe cũng có lý quá phải không?" "Sao tụi mình không gọi nhau bằng cu ta? Phải tỏ ra kính trọng nhau chớ."
Từ đó tụi tôi gọi nhau bằng cu: cu Hợp, cu Danh, cu Mạnh, cu Khánh. Riêng Đại Úy được miễn. Cả khóa ai cũng mắc cười. Chỉ có vài người biết rõ căn nguyên.
"Gọi bằng cụ," tôi trả lời. "Nhưng gọi bằng cụ nhiều khi thấy nặng nề quá, nên thường bỏ bớt dấu nặng đi gọi là cu. Nghe thân thiết hơn."
Ben Hieng cười. Được đà tôi làm tới: "Chẳng hạn có thể gọi cụ Hồ là cu Hồ." Mạnh U và Hợp Cà Nhõng ngã lăn ra cười. Thằng Khánh đế vô thêm: "Nếu muốn tỏ sự kính trọng mấy thầy thì gặp họ chào như vầy nè: "Chào cu Thiện! Chào cu Lượng! Chào cu Toản!" Phải như vậy đó."
Ben Hieng lãng qua chỗ khác. Tụi tôi quay lại nhìn nhau: "Nghe cũng có lý quá phải không?" "Sao tụi mình không gọi nhau bằng cu ta? Phải tỏ ra kính trọng nhau chớ."
Từ đó tụi tôi gọi nhau bằng cu: cu Hợp, cu Danh, cu Mạnh, cu Khánh. Riêng Đại Úy được miễn. Cả khóa ai cũng mắc cười. Chỉ có vài người biết rõ căn nguyên.
Saturday, March 5, 2011
Học Hành
"Hồi đó có học hành gì không mà bày đặt đi mua sách vậy?" Quỳnh giỡn. Tôi cười trừ.
Hồi đó chả đứa nào chịu học hành gì hết. Kéo nhau đi mua sách vì nghe nói trong sách có nhiều ví dụ, coi theo đó làm bài tập khỏi mất công suy nghĩ mệt óc. Biết đâu lại còn trúng tủ khi kiểm tra hoặc khi thi học kỳ nữa. Thầy cũng làm biếng như trò, cũng mở mấy bộ sách quen thuộc bốc đại mấy bài ra cho học trò thi mà thôi. Mỗi môn thi chỉ cần 5/10 điểm là coi như xong nợ.
Kỳ thi Đại Học đã vắt kiệt cả đám.
Mùa học đầu tiên, tụi tôi phát hiện ra mình phải học lại nhiều điều đã học hồi luyện thi đại học, nhất là các môn Toán, Lý, Hóa. Hải phệ la lên: "Dẹp! Học làm gì nữa cho mệt." Vậy là cả mùa đầu, cả đám thi nhau xả hơi. Từ mùa thứ hai trở đi mới tạm gọi là chịu học chút chút cho khỏi hổ danh. Nhưng học với nỗi chán chường và cơn giận ngấm ngầm.
Đại học trở thành chỗ để trả công cho xương máu và mồ hôi đổ ra của phe cộng sản trong cuộc nội chiến, nên con đường vô đại học của con dân không cộng sản ở miền Nam càng lúc càng chông gai. Kỳ thi Đại học trở thành công cụ để chính quyền loại bỏ những thành phần không được ưa thích ra khỏi môi trường đại học. Thí sinh được phân ra bốn diện. Diện một là con liệt sĩ và bộ đội phục viên. Diện hai là con cái cán bộ. Diện ba là con dân thường. Diện bốn là con "ngụy" và "phản động." Mỗi diện lại có nhiều đối tượng. Tổng cộng mười ba đối tượng. Hai diện đầu chiếm đến chín đối tượng. Con dân thường được ba đối tượng. Hai đối tượng cuối dành cho con "ngụy" và "phản động." Đơn thi đại học là một bản khai lý lịch dài ba đời với đủ thứ chi tiết.
Chia diện để phân biệt đối xử. Diện một chỉ cần chín mười điểm, tổng cộng điểm của ba môn thi, là đậu. Diện hai cần khoảng mười bốn mưòi lăm điểm là đậu. Diện ba cần khoảng hăm mốt hăm hai điểm mới đậu. Diện bốn cần khoảng hăm ba hăm bốn điểm trở lên mới đậu được. Điểm đậu lên xuống mỗi năm. Năm nào thí sinh diện ba diện bốn giải đề ngon lành là điểm đậu dành cho diện ba diện bốn lên cao theo. Điểm đậu cho diện bốn lên đến kỷ lục vào mùa thi 1985. Năm đó để vô được trường Y, thí sinh diện bốn phải đạt 28/30 điểm, coi như bị cấm cửa.
Bộ Giáo Dục chia các trường đại học ở miền Nam ra làm ba khối từ dễ tới khó và ra ba bộ đề xếp hạng 1, 2, 3. Thí sinh Bách Khoa thi đề A1. Dường như có một cuộc chạy đua giữa học trò và những nhóm ra đề của Bộ Giáo Dục. Đề càng lúc càng khó hơn. Để đạt năm điểm cho mỗi môn thi không khó. Nhưng cho năm điểm còn lại thì khó vô cùng. Nhiều lúc những khái niệm Toán Lý Hóa cao cấp trong đại học cũng được đưa vô đề thi. Một ông thầy la trời với đám học trò thân thiết: "Trước năm bảy lăm, đề thi đại học dưới sức học trò. Đề chỉ dài, học trò ráng làm cho kịp giờ là đạt. Giờ thì đề trên sức học trò quá xá. Tụi mày bị triệt rồi!" Với sự giúp sức của thầy, đề khó cỡ nào cũng có nhiều đứa học trò giải được. Các ông thầy cũng vắt óc suy nghĩ, đoán hướng ra đề mỗi năm để luyện cho học trò. Khi Bộ Giáo Dục thấy đề khó không đè bẹp được học trò, nó bắt đầu cho ra đề mánh, tìm mọi cách đễ giăng bẫy thí sinh. Nhiều khi phải đợi đến lúc chấm điểm xong, có đáp án mới hiểu ý của mánh là gì. Cuộc đấu trí giữa thầy trò và Bộ Giáo Dục trong kỳ thi đại học càng gay go hơn nữa. Đến ngày thi, thầy cô chúc trò may mắn với vẻ ngậm ngùi. Cha mẹ dẫn con đi thi mà lòng nặng trĩu. Học là phải học hết mình rồi, nhưng đến nước này đành phải phó thác vô hên xui may rủi.
Vậy mà học trò vẫn làm bài được, và điểm đậu vẫn cao ngất trời. Tụi tôi hay giỡn với nhau: "Hay không bằng hên!" Nhưng cũng phải công nhận có một chút xuất thần trong đó nữa. Cái xuất thần của tuổi trẻ trong sáng khi bị dồn tới đường cùng.
Cuối cùng, tụi tôi bước vô đại học lòng không một chút hứng thú. Và buồn. Nhiều bạn bè rất giỏi, nhưng không gặp may, không đặt chân được vô đại học. Nếu không chạy chọt vô làm công nhân viên chức được và tìm cách thi lại hoặc vượt biên lọt, chiến trường K và các công trường, nông trường, lâm trường luôn luôn rộng chỗ. Nếu chịu sống chui sống nhũi, thì trốn hết mấy cái nghĩa vụ đó và ra chợ trời. Cha mẹ làm hết sức để giành giật lại con cái khỏi tay chính quyền.
Năm 1989, với một thông báo ngắn gọn trên báo, chính sách kỳ thị này lẳng lặng chấm dứt.
Hồi đó chả đứa nào chịu học hành gì hết. Kéo nhau đi mua sách vì nghe nói trong sách có nhiều ví dụ, coi theo đó làm bài tập khỏi mất công suy nghĩ mệt óc. Biết đâu lại còn trúng tủ khi kiểm tra hoặc khi thi học kỳ nữa. Thầy cũng làm biếng như trò, cũng mở mấy bộ sách quen thuộc bốc đại mấy bài ra cho học trò thi mà thôi. Mỗi môn thi chỉ cần 5/10 điểm là coi như xong nợ.
Kỳ thi Đại Học đã vắt kiệt cả đám.
Mùa học đầu tiên, tụi tôi phát hiện ra mình phải học lại nhiều điều đã học hồi luyện thi đại học, nhất là các môn Toán, Lý, Hóa. Hải phệ la lên: "Dẹp! Học làm gì nữa cho mệt." Vậy là cả mùa đầu, cả đám thi nhau xả hơi. Từ mùa thứ hai trở đi mới tạm gọi là chịu học chút chút cho khỏi hổ danh. Nhưng học với nỗi chán chường và cơn giận ngấm ngầm.
Đại học trở thành chỗ để trả công cho xương máu và mồ hôi đổ ra của phe cộng sản trong cuộc nội chiến, nên con đường vô đại học của con dân không cộng sản ở miền Nam càng lúc càng chông gai. Kỳ thi Đại học trở thành công cụ để chính quyền loại bỏ những thành phần không được ưa thích ra khỏi môi trường đại học. Thí sinh được phân ra bốn diện. Diện một là con liệt sĩ và bộ đội phục viên. Diện hai là con cái cán bộ. Diện ba là con dân thường. Diện bốn là con "ngụy" và "phản động." Mỗi diện lại có nhiều đối tượng. Tổng cộng mười ba đối tượng. Hai diện đầu chiếm đến chín đối tượng. Con dân thường được ba đối tượng. Hai đối tượng cuối dành cho con "ngụy" và "phản động." Đơn thi đại học là một bản khai lý lịch dài ba đời với đủ thứ chi tiết.
Chia diện để phân biệt đối xử. Diện một chỉ cần chín mười điểm, tổng cộng điểm của ba môn thi, là đậu. Diện hai cần khoảng mười bốn mưòi lăm điểm là đậu. Diện ba cần khoảng hăm mốt hăm hai điểm mới đậu. Diện bốn cần khoảng hăm ba hăm bốn điểm trở lên mới đậu được. Điểm đậu lên xuống mỗi năm. Năm nào thí sinh diện ba diện bốn giải đề ngon lành là điểm đậu dành cho diện ba diện bốn lên cao theo. Điểm đậu cho diện bốn lên đến kỷ lục vào mùa thi 1985. Năm đó để vô được trường Y, thí sinh diện bốn phải đạt 28/30 điểm, coi như bị cấm cửa.
Bộ Giáo Dục chia các trường đại học ở miền Nam ra làm ba khối từ dễ tới khó và ra ba bộ đề xếp hạng 1, 2, 3. Thí sinh Bách Khoa thi đề A1. Dường như có một cuộc chạy đua giữa học trò và những nhóm ra đề của Bộ Giáo Dục. Đề càng lúc càng khó hơn. Để đạt năm điểm cho mỗi môn thi không khó. Nhưng cho năm điểm còn lại thì khó vô cùng. Nhiều lúc những khái niệm Toán Lý Hóa cao cấp trong đại học cũng được đưa vô đề thi. Một ông thầy la trời với đám học trò thân thiết: "Trước năm bảy lăm, đề thi đại học dưới sức học trò. Đề chỉ dài, học trò ráng làm cho kịp giờ là đạt. Giờ thì đề trên sức học trò quá xá. Tụi mày bị triệt rồi!" Với sự giúp sức của thầy, đề khó cỡ nào cũng có nhiều đứa học trò giải được. Các ông thầy cũng vắt óc suy nghĩ, đoán hướng ra đề mỗi năm để luyện cho học trò. Khi Bộ Giáo Dục thấy đề khó không đè bẹp được học trò, nó bắt đầu cho ra đề mánh, tìm mọi cách đễ giăng bẫy thí sinh. Nhiều khi phải đợi đến lúc chấm điểm xong, có đáp án mới hiểu ý của mánh là gì. Cuộc đấu trí giữa thầy trò và Bộ Giáo Dục trong kỳ thi đại học càng gay go hơn nữa. Đến ngày thi, thầy cô chúc trò may mắn với vẻ ngậm ngùi. Cha mẹ dẫn con đi thi mà lòng nặng trĩu. Học là phải học hết mình rồi, nhưng đến nước này đành phải phó thác vô hên xui may rủi.
Vậy mà học trò vẫn làm bài được, và điểm đậu vẫn cao ngất trời. Tụi tôi hay giỡn với nhau: "Hay không bằng hên!" Nhưng cũng phải công nhận có một chút xuất thần trong đó nữa. Cái xuất thần của tuổi trẻ trong sáng khi bị dồn tới đường cùng.
Cuối cùng, tụi tôi bước vô đại học lòng không một chút hứng thú. Và buồn. Nhiều bạn bè rất giỏi, nhưng không gặp may, không đặt chân được vô đại học. Nếu không chạy chọt vô làm công nhân viên chức được và tìm cách thi lại hoặc vượt biên lọt, chiến trường K và các công trường, nông trường, lâm trường luôn luôn rộng chỗ. Nếu chịu sống chui sống nhũi, thì trốn hết mấy cái nghĩa vụ đó và ra chợ trời. Cha mẹ làm hết sức để giành giật lại con cái khỏi tay chính quyền.
Năm 1989, với một thông báo ngắn gọn trên báo, chính sách kỳ thị này lẳng lặng chấm dứt.
Saturday, February 5, 2011
Sinh Viên
"Hồi đó ra đường cũng không ai nghĩ mình là sinh viên hết," tôi nhớ lại.
"Nhìn bọn con trai thấy ớn quá mà," Quỳnh cười tủm tỉm.
"Có chuyện vui lắm."
Sách chuyên ngành thời đó rất hiếm vì in ít và bị các nhà sách tuồn ra chợ đen. Bữa đó, nghe nói có sách mới về nên cả đám kéo ra Sài Gòn mua sách ở tiệm sách lớn trên đường Lê Lợi có cái tên dài lằng ngoằng chẳng ai nhớ nỗi, nhà Khai Trí hồi trước. Cả đám kéo vô hỏi mua bộ Cơ Kết Cấu, nhưng nhân viên bán sách lại nói là không còn sách nữa. Đại Úy hỏi: "Sách vẫn chưng trên kệ kìa sao nói là hết?" "Nhiều người mua nên hết rồi," nhỏ bán sách đáp cộc lốc. Phương cùi hỏi lại: "Ngoài tụi tôi ra đâu có ai mua mấy sách này mà lại nói là hết?" Nhỏ bán sách ném cái nhìn khinh khỉnh: "Mấy anh là gì mà đòi mua sách này?" "Tụi tui là sinh viên ngành Xây Dựng." "Có gì chứng minh không? Chỉ bán cho đúng nguời." Đến nước này thì Phương cùi nổi nóng lên, rút cái thẻ sinh viên đập cái xạch xuống mặt quầy: "Cái này được không?" Cái thẻ sinh viên đỏ lét thấy mà ghê. Đại Úy hùng hổ: "Không bán thì tụi này lên gặp chủ nhiệm." Nhỏ bán sách quê độ đem sách ra bán. Mỗi đứa mua được một bộ. Khi cả đám kéo ra, nhỏ bán sách nói vọng theo: "Trời! Sinh viên gi mà coi cái tướng kìa." Mạnh u quay lại: "Tướng sinh viên là cái tướng gì?" Khách trong tiệm cười ồ lên. Hợp cà nhỏng bồi thêm: "Tướng em muốn đi cạnh tụi anh cũng chẳng ai cho đâu à nhe."
Phương cùi giờ rãnh đi bán kẹo kéo, vặn cặp loa inh ỏi dụ con nít, kiếm tiền thêm. Cái quần jean và cái áo thun bạc phết. Không đeo túi sách, cuốn vở duy nhất cuốn lại nhét sau túi quần. Mạnh u đạp thêm xích lô để phụ gia đình. Cái áo bảo hộ in dấu mồ hôi. Quần vá mông và đùi. Hợp cà nhõng áo nhăn nheo rút lên tận bụng, quần lết phết. Mấy đứa khác thôi khỏi nói.
Ra khỏi tiệm mấy bước, Đại Úy thảy liền bộ sách cho đám chợ đen kéo cả đám ra trước Thư viện Quốc gia uống cà phê.
"Nhìn bọn con trai thấy ớn quá mà," Quỳnh cười tủm tỉm.
"Có chuyện vui lắm."
Sách chuyên ngành thời đó rất hiếm vì in ít và bị các nhà sách tuồn ra chợ đen. Bữa đó, nghe nói có sách mới về nên cả đám kéo ra Sài Gòn mua sách ở tiệm sách lớn trên đường Lê Lợi có cái tên dài lằng ngoằng chẳng ai nhớ nỗi, nhà Khai Trí hồi trước. Cả đám kéo vô hỏi mua bộ Cơ Kết Cấu, nhưng nhân viên bán sách lại nói là không còn sách nữa. Đại Úy hỏi: "Sách vẫn chưng trên kệ kìa sao nói là hết?" "Nhiều người mua nên hết rồi," nhỏ bán sách đáp cộc lốc. Phương cùi hỏi lại: "Ngoài tụi tôi ra đâu có ai mua mấy sách này mà lại nói là hết?" Nhỏ bán sách ném cái nhìn khinh khỉnh: "Mấy anh là gì mà đòi mua sách này?" "Tụi tui là sinh viên ngành Xây Dựng." "Có gì chứng minh không? Chỉ bán cho đúng nguời." Đến nước này thì Phương cùi nổi nóng lên, rút cái thẻ sinh viên đập cái xạch xuống mặt quầy: "Cái này được không?" Cái thẻ sinh viên đỏ lét thấy mà ghê. Đại Úy hùng hổ: "Không bán thì tụi này lên gặp chủ nhiệm." Nhỏ bán sách quê độ đem sách ra bán. Mỗi đứa mua được một bộ. Khi cả đám kéo ra, nhỏ bán sách nói vọng theo: "Trời! Sinh viên gi mà coi cái tướng kìa." Mạnh u quay lại: "Tướng sinh viên là cái tướng gì?" Khách trong tiệm cười ồ lên. Hợp cà nhỏng bồi thêm: "Tướng em muốn đi cạnh tụi anh cũng chẳng ai cho đâu à nhe."
Phương cùi giờ rãnh đi bán kẹo kéo, vặn cặp loa inh ỏi dụ con nít, kiếm tiền thêm. Cái quần jean và cái áo thun bạc phết. Không đeo túi sách, cuốn vở duy nhất cuốn lại nhét sau túi quần. Mạnh u đạp thêm xích lô để phụ gia đình. Cái áo bảo hộ in dấu mồ hôi. Quần vá mông và đùi. Hợp cà nhõng áo nhăn nheo rút lên tận bụng, quần lết phết. Mấy đứa khác thôi khỏi nói.
Ra khỏi tiệm mấy bước, Đại Úy thảy liền bộ sách cho đám chợ đen kéo cả đám ra trước Thư viện Quốc gia uống cà phê.
Saturday, January 15, 2011
Banh Nhựa
Khóa 86 giữ bản quyền chơi banh nhựa. Trong những giờ ngồi vất vưởng trong trường giữa các tiết học, không biết có một thằng nào đó nảy ra cái ý tưởng thiên tài này. Banh da quá mắt cho cái túi trống không của hầu hết đám con trai, tại sao lại không chơi banh nhựa. Cô con gái bà bán tạp hóa trong cư xá Lữ Gia tròn mắt lên khi biết mấy anh sinh viên mua banh nhựa về trường đá. Người đi đường ngang qua thấy bọn sinh viên đi học kẹp theo trái banh nhựa cũng nhìn theo xăm xăm không hiểu bọn này làm cái trò gì. Bọn con trai 86 thì cứ tỉnh queo vì chẳng có gì để mà hiểu.
Banh nhựa được chơi trước tiên trên các khoảng sân trống trước dãy B6, sau sân bóng ném bên hông B6 được ưa thích nhất vì mặt sân xi măng bằng phẳng, có sẳn khung thành, và kích thước vừa đúng cho một đội có từ 5 đến 6 đứa. Lúc đầu trái banh nhựa được để nguyên, đá bay véo véo thiệt đã, nhưng chập bể hoài, cứ phải tốn tiền mua banh mới. Sau có thằng nghĩ ra xì hơi trái banh nhựa để chập khỏi bể và dính, rê đã hơn. Mới đầu là chân không, áo quần còn nghiêm chỉnh, sau bỏ áo, rồi cởi luôn quần dài, trên người chỉ còn độc một cái quần đùi chạy nhồng nhỗng.
Có một bữa, một ông thầy vai vế trong khoa Xây Dựng vô lớp làm mặt ngầu, cuối cùng mới cho biết có một tay Pháp nào đó tới trường thấy cảnh đá banh nhựa bèn hỏi sao trường để cho con nít vô đá banh ồn ào vậy. 'Tôi thiệt không hiểu nỗi mấy anh,' ông thầy nói.
Bọn 84 đá banh có máu mặt ở đất Sài Gòn thấy bọn 86 chơi banh nhựa mắc cười quá, đi ngang qua là chọc. Bọn 86 thách lại hỏi có chịu chơi không. Bọn 83, 85 cũng nhào vô. Giải banh nhựa toàn trường được tổ chức. Các đội khóa 86 đều chiếm các hạng đầu vì các tuyển thủ banh da của các khóa khác điều khiển trái banh nhựa không nhuyễn bằng các danh thủ banh nhựa hồn nhiên như con nít của bọn 86.
Sunday, January 9, 2011
Ghi Ta
Quỳnh không phải loại học ngày học đêm. Nàng học cái gì cũng nhanh, nên có nhiều thì giờ chơi giỡn. Quỳnh thích chơi ghi ta, vừa hát vừa tự đệm đờn. Quỳnh cũng bắt đầu học ghi ta cổ điển từ mùa hè năm lớp mười khi ra Nha Trang chơi, và được một ông anh họ tài hoa cho cây đờn cũ và chỉ cho những ngón căn bản. Những ngón tay tuy không còn dẻo nữa nhưng vẫn theo được ngon lành. Về lại Sài Gòn thì tự học tiếp, bí thì chờ ông anh họ, lúc này là sinh viên Bách Khoa, đến nhà lôi ra hỏi. Mỗi tối sau khi phụ mẹ rửa chén xong là Quỳnh ôm đờn ra trước hiên dạo vài ngón, cho tới lúc mẹ ra hỏi từng tưng xong chưa còn vô học bài rồi đi ngủ. Mẹ Quỳnh là cô giáo dạy lớp 12, không khó tính nhưng kỷ luật. Một trong những kỷ luật đặt ra là ngoài giờ học đi đâu thì đi nhưng đến giờ cơm tối là phải về nhà. Nhờ ở nhà chơi đờn đều đặn mỗi tối, nàng tiến nhanh chóng. Sau khi đậu vô Bách Khoa, ông anh họ bắt đầu tập Quỳnh chơi song tấu.
Trừ cái nhóm lúc nào cũng săn đón mình, Quỳnh nhận ra phần đông con trai ở trường rất lạ. Có nhiều đứa mặt mũi rất sáng sủa, tướng tá phong độ tuy bụi bặm, nhưng hình như tụi nó cứ chìm đắm đâu đó trong thế giới riêng của mình, đụng mặt nàng mà cứ tỉnh queo khiến nàng phải tự ái. Nhiều lúc Quỳnh đâm ra thắc mắc không biết cái đám con trai chào đón sinh viên mới ở B10, cái đám hú hét ở ký túc xá từ đâu ra. Nàng muốn làm quen với bọn họ, và chờ đợi nhiều người trong số họ tiến đến làm quen mình, nhưng vẫn không có ai tiến đến hết. Quỳnh quyết làm cho họ phải để ý đến mình.
Quỳnh mang theo cây ghi ta khi tới kỳ học quân sự, hát hò cùng bạn bè trong những lúc giải lao. Các viên sĩ quan bộ đội trẻ về trường huấn luyện quân sự cho sinh viên khoái nghe những bản tình ca của miền Nam nên thường cho những buổi giải lao kéo dài lâu hơn. Bọn sinh viên càng hát hò hăng hơn. Quỳnh thường được yêu cầu hát ngày xưa yêu em anh cũng yêu màu tím…
Trừ bọn con trai cùng khoa với Quỳnh, bọn con trai các khoa khác cũng thỉnh thoảng bắt gặp Quỳnh đi học mang theo cây ghi ta nhưng hiếm có cơ hội được nghe Quỳnh hát. Trường thì rộng, năm thì mười họa mới có dịp đi ngang qua các nhóm học quân sự đang nghĩ giải lao dưới các tàng cây um tùm trong khuôn viên trường.
Tôi đưa ra một nhận xét muộn màng: “Hình ảnh Quỳnh đi học với cây đờn trong tay mang lại một nét là lạ cho cái không khí đại học khô khan và rã rượi của thời đó.”
Quỳnh bật cười, trôi tiếp trong dòng ký ức: ‘Cũng trong cái mùa quân sự đó, Quỳnh để ý mới biết được có một đám con trai trường mình chơi … banh nhựa suốt.’
Sunday, January 2, 2011
Mệt Mỏi và Bụi Bặm
Bọn con trai, những đứa vừa sống qua cái thời ly tán, đổ vỡ, trì trệ, đói khát, và thiếu thốn đến rã người, hầu hết đều rệu rã khi bước chân vô Bách Khoa. Có đứa tìm cách xả những bực tức của tuổi trẻ một cách độc ác, vô tâm, và vô tội vạ. Có đứa bộc lộ nó trong nét khinh mạn, vẻ mệt mỏi, và sự chán chường. Nhưng cả đám đều giống nhau ở một điểm: ăn mặc bụi bặm, nhiều khi cố tình làm nhàu nát đến mức thách thức. Bọn tôi nhập học với những bộ quần áo như vậy.
Ở ngay giữa trường là khu giảng đường A4 và A5 hình nghiên và bút. Khu giảng đường được xây dang dỡ thì đất nước thống nhất. Khi tụi tôi nhập trường thì bút vẫn đứt ngang giữa chừng, và nghiên vẫn để hở toang hoác. Ông hiệu trưởng ĐHBK chào đón sinh viên mới ở tầng trệt của giảng đường A5 bằng những ngôn từ như nghe ở loa phường. Tụi tôi nhìn nhau lắc đầu, rồi biến ra ngoài. Đứa nào muốn hưởng cái danh sinh viên XHCN thì ráng mà ngồi lại nghe. Bọn tôi mệt lắm rồi. Mệt mỏi và trống rỗng. Một thằng già bộ đội đi K về chửi đổng: ‘Đụụụụụ…! Ba tuổi học đêm qua em mơ gặp bác Hồ và yêu chú bộ đội. Sáu tuổi tập đọc tập viết tập làm toán, tập yêu nước Việt Nam có lá cờ đỏ sao vàng, tập căm thù những thằng đế quốc và tay sai. Mười tuổi sống, học tập, và lao động theo năm điều Bác dạy, thắt chiếc khăn quàng đỏ nheo nhéo đứng dưới bóng cờ đội thiếu niên tiền phong. Mười lăm tuổi xung độ đứng vào hàng ngũ đoàn thanh niên Hồ Chí Minh. Giờ sống chết vô đây làm học sinh cấp IV.’
Ngay lập tức thằng già được phong Đại Úy, và chết tên luôn.
Bách Khoa
Nhắc tới Bách Khoa là Quỳnh lại nhớ tới những ngày đầu vô trường. Có không biết bao nhiêu là con trai chen chật hết các lan can của ba tầng lầu dãy B10 đối diện với cổng sau trên đường Tô Hiến Thành. Mỗi khi có một cô gái nào vừa dẫn xe vô khỏi cổng là đám con trai lại ồ lên, kêu đủ thứ tên, chỉ trỏ và bình phẩm ầm ĩ. Đến tận bây giờ Quỳnh vẫn còn nhớ cái cảm giác sợ điếng người lúc đó. Cùng với cảm giác sợ, là cái cảm giác thất vọng. Đám sinh viên Bách Khoa chào đón nàng ở cổng sau thật khác với cái hình ảnh Quỳnh tự vẽ lên trong đầu trước đây, theo mẫu ông anh họ tài hoa học bên Cơ Khí. Thay vì là những anh chàng trẻ trung có vẻ suy tư hoặc nghệ sĩ, thì trước mắt nàng chỉ là một đám con trai ăn mặc bụi bặm, ồn ào, và chửi thề búa xua. Không thất vọng sao được vì mỗi năm trường chỉ nhận 400 sinh viên cho toàn dãi đất từ Khánh Hòa trở vô đến hết mũi Cà Mau. Tinh hoa của tuổi trẻ mà nhìn như vầy đây.
Lần đầu tiên vô ký túc xá thăm những người bạn gái mới quen, không khí còn ghê rợn hơn nữa. Vừa dắt xe vô cổng, Quỳnh nghe một tiếng ‘Giết!’ ngân dài rùng rợn. Liền theo đó, không biết cơ man nào là con trai thò đầu ra khỏi các ô cửa sổ trên các dãy lầu, trên người chỉ có độc một cái quần đùi, hùa theo nhau mà la. Lần này thì Quỳnh không còn sợ nữa, chỉ thắc mắc và tức ghê lắm.
Những trò này chỉ diễn ra trong một hai tuần đầu tiên sau ngày nhập học. Dường như có ai đó có tài hô biến là lập tức tất cả biến đâu mất hết. Chỉ còn lại cái cảnh đám con trai đứa nào cũng ăn bận bụi bặm, lúc nào cũng kéo nhau đi cả đám.
Những trò này chỉ diễn ra trong một hai tuần đầu tiên sau ngày nhập học. Dường như có ai đó có tài hô biến là lập tức tất cả biến đâu mất hết. Chỉ còn lại cái cảnh đám con trai đứa nào cũng ăn bận bụi bặm, lúc nào cũng kéo nhau đi cả đám.
Như những cô gái dễ thương khác trong trường, Quỳnh nhanh chóng được nhiều người để ý. Đi đâu cũng có một đám con trai săn đón, tìm cách làm quen. Tụi nó từ đủ mọi khoa, cũng đáng mến, tuy không tài hoa. Quỳnh vui hưởng những trò săn đón, nhưng không để ý nhiều tới họ. Đó là sự trả thù ngấm ngầm nàng dành cho cái cách mà tuổi sinh viên của mình được chào đón.
Quỳnh nhanh chóng mang tiếng kiêu.
Saturday, January 1, 2011
1986
Đổi tiền. Đổi mới. Tự cứu mình trước khi trời cứu. Thi Đại Học. Nhất Y, nhì Dược, tạm được Bách Khoa. Đề A1. Học thêm. Cù An Hưng. Phân diện thí sinh. Con liệt sĩ. Con cán bộ. Con dân. Con ngụy. Cam Pu Chia. Thương binh. Nghĩa vụ quân sự. Nghĩa vụ quốc phòng. Đi nghĩa vụ. Trốn nghĩa vụ. Công an khu vực. Phường đội. Loa phường. Stereo Cassette. Winners Take It All. Hello. Nghe Những Tàn Phai. Vũng Lầy của Chúng Ta. Báo Tuổi Trẻ. Phim Liên Xô. Phim chọn lọc. Phim lưu kho. Đầu Video. Giải bóng đá hạng A1. Cảng Sài Gòn. Hải Quan. Lãnh đồ. Đồ Mỹ. Đồ nội. Đồ Thái Lan. Chạy chợ trời. Đi buôn. Xe đạp. Xe cúp nghĩa địa. Xa lộ Biên Hòa. Xa cảng miền Tây. Bình Triệu. Hòa Hưng. Vũng Tàu. Vượt biên. Xuất ngoại…
‘Thôi, thôi!’ Quỳnh đưa tay ngăn lại, ‘Nhiều quá lại không biết bắt đầu từ đâu.’
Trầm Tích Của Ký Ức
Cho một thanh củi vô lò, Quỳnh tư lự: ‘Mười tám năm rồi đó. Còn nhớ gì Bách Khoa không?’ Tôi cười: ‘Không nhiều lắm. Đóng cặn hết rồi. Nhớ sao nổi khi chẳng có mấy ai để chia sẻ.’ Quỳnh cười buồn: ‘Quỳnh cũng vậy.’
‘Có cách nào để nhớ không?’ - Quỳnh bật hỏi.
Tôi bật cười: ‘Keywords. Search!’
Subscribe to:
Posts (Atom)